Hiển thị các bài đăng có nhãn loãng xương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn loãng xương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

Uống sữa có hại?

Một số bạn gửi email và nhắn qua fb hỏi tôi có ý kiến hay bình luận gì về bài báo trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần (“Người lớn uống sữa, hại nhiều hơn lợi”). Thật ra, bài báo này chỉ viết lại những bài báo ở nước ngoài về một nghiên cứu được công bố trên tập san British Medical Journal (BMJ) gần đây, kết luận rằng uống nhiều sữa có liên quan đến tăng nguy cơ tử vong và gãy xương (2). Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy TTCT đăng bài này với cái tựa đề quá khẳng định! Tôi là người làm trong lĩnh vực này và cũng quen biết khá thân tình với nhóm tác giả, nhưng tôi không bao giờ nghĩ rằng cái nghiên cứu đó có thể cho phép chúng ta nói rằng uống sữa có hại nhiều hơn lợi. Ngược lại, tôi nghĩ đối với người Việt, uống sữa có lợi cho sức khỏe và có tác dụng giảm nguy cơ loãng xương.


Sữa là nguồn calcium rất quan trọng cho cơ thể. Dĩ nhiên, chúng ta có thể dùng bổ sung calcium, nhưng sữa vẫn là nguồn “tự nhiên” và an toàn nhất. Calcium thì lại rất cần cho cơ thể trong quá trình xây dựng và duy trì bộ xương. Cơ thể còn cần calcium để chuyển tín hiệu cho não, điều chế nhịp tim, và phòng chống đông máu. Nên nhớ rằng 99% calcium trong cơ thể nằm ở xương và răng (phần 1% còn lại được “lưu hành” ở trong máu và các mô khác). Nói như thế để thấy calcium đóng vai trò quan trọng trong cơ thể chúng ta. Nguồn calcium như tôi nói chủ yếu là qua sữa và thức ăn.

Thế nhưng người Việt có thói quen ăn uống rất ít calcium. Theo nghiên cứu của chúng tôi, mỗi ngày người Việt chỉ tiếp thu khoảng 300-400 mg calcium. Lượng calcium cần thiết mỗi ngày đáng lí ra phải là 1000 mg. Nhưng rất ít người Việt đáp ứng được tiêu chuẩn đó. Do đó, không quá ngạc nhiên khi nhiều trẻ em và thiếu niên không phát triển đúng với tiềm năng. Hệ quả là bộ xương của người Việt không được tốt mấy và chiều cao thì còn khiêm tốn.
Nhưng nghiên cứu công bố trên BMJ nói rằng uống nhiều sữa làm tăng nguy cơ tử vong và gãy xương! Dữ liệu này khi mới công bố gây sững sốt trong cộng đồng nghiên cứu loãng xương. Nói chung là nhiều người không mấy quan tâm đến nghiên cứu này vì nó có quá nhiều vấn đề. Ngay cả tác giả của công trình nghiên cứu cũng thú nhận như thế, và họ đề nghị nên cẩn thận khi diễn giải kết quả, chứ không tin một cách mù quáng.

Một trong những vấn đề là hiện tượng mà giới dịch tễ học gọi là “reverse association”. Thông thường, nhà nghiên cứu muốn “chứng minh” yếu tố X (như uống sữa chẳng hạn) là tác nhân gây biến cố Y (ví dụ như tử vong). Thế nhưng trong thực tế, có khi chính Y gây tác động đến X, và chúng ta cứ tưởng là X là nguyên cớ của Y! Chẳng hạn như những người cao tuổi thường mắc nhiều bệnh, kể cả loãng xương (nói ngắn gọn là họ “già yếu”), nên bác sĩ thường khuyến cáo uống vài li sữa mỗi ngày. Những người khỏe mạnh thì ít khi nào được khuyến cáo như thế. Mà, những người già yếu thì có nguy cơ tử vong cao. Do đó, khi nhà nghiên cứu phân tích mối liên quan giữa sữa và tử vong, họ sẽ thấy người uống nhiều sữa có nguy cơ tử vong cao! Thế nhưng, chúng ta biết rằng sự thật không phải như vậy, mà ngược lại. Chính vì thế mà dân trong nghề gọi hiện tượng này là “reverse association” (liên quan nghịch đảo), có khi còn gọi là "confounding by indication". Hiện tượng này hay thấy trong các nghiên cứu quan sát (như nghiên cứu của nhóm tác giả).

Cái nghiên cứu của nhóm Thụy Điển trên BMJ có thể giải thích bằng hiện tượng reverse association. Chính nhóm tác giả cũng không loại bỏ yếu tố này. Thật ra, nghiên cứu đó, nếu đọc kĩ, sẽ phát hiện nhiều vấn đề khác. Ví dụ như người ta không chỉ uống sữa, mà còn phải ăn uống thức ăn khác, kể cả protein, và tăng protein là một yếu tố nguy cơ gãy xương. Thế nhưng với mô hình nghiên cứu của tác giả thì họ không thể tách bạch được ảnh hưởng của protein và sữa riêng ra được. Ngoài ra, còn có vài vấn đề về phân tích thống kê và cách hiểu theo ý nghĩa của trị số P, nhưng đây là những vấn đề mang tính kĩ thuật. Do đó, kết quả của nghiên cứu này không có giá trị khoa học cao.

Nói tóm lại, sữa là nguồn quan trọng để chúng ta có calcium, và calcium là một chất khoáng hết sức quan trọng cho cơ thể và cho tất cả độ tuổi. Ở VN, rất nhiều người thiếu calcium, nên sữa là một nguồn quan trọng. Giới y tế vẫn xem sữa là một nguồn thức uống có ích cho sức khỏe, và họ có nhiều lí do và chứng cứ để khuyến cáo như thế (3). Không nên chỉ vì một bài báo “vớ vẩn” trên BMJ mà khuyến cáo người ta không nên uống sữa.
====


(2) Michaelsson K, et al. Milk intake and risk of mortality and fractures in women and men: cohort studies. BMJ 27/10/2014

(3) Rizzoli R. Dairy products, yogurts, and bone health. Am J Clin Nutr 2014;99:1256S-62S.

Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014

Với xương, lượng cơ quan trọng hơn mỡ

Tôi hân hạnh giới thiệu một công trình nghiên cứu mới được công bố trên tập san nội tiết học Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism (JCEM). Đây là một bài phân tích tổng hợp (meta-analysis) về tác động của lượng cơ (nạc) và mỡ đến xương. Chủ đề này đã từng gây ra tranh cãi trong vòng 20 năm qua. Qua kết quả này, chúng tôi hi vọng đã có câu giải đáp sau cùng: đối với xương, lượng cơ quan trọng hơn lượng mỡ. Điều này có nghĩa là vai trò luyện tập thể dục là một phương án tốt nhất để phòng chống loãng xương. Dưới đây là thông cáo báo chí của Viện Garvan. (Đây cũng là công trình đầu tiên mà chúng tôi gắn bó với ĐH Tôn Đức Thắng). NVT

MUSCLE IS THREE TIMES BETTER THAN FAT FOR BONES

Garvan researchers in collaboration with Vietnamese colleagues have now shown that the impact of ‘lean mass’ is 3 times higher than the impact of ‘fat mass’, finally concluding a debate that has lasted for over 20 years.
Media Release: 20 January 2014
While it is well known that heavier people develop stronger bones, a burning issue for osteoporosis researchers over the last 20 years has been whether muscle or fat has the greater impact on bone mineral density. Australian and Vietnamese scientists have now shown that the impact of ‘lean mass’ is 3 times higher than the impact of ‘fat mass’, finally concluding the protracted debate.

The discussion started in July 1992 when a prominent group from the University of Auckland published a paper in the Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism, demonstrating that body fat mass is the most significant predictor of bone density. The work has since been heavily cited, and has spawned dozens of other studies trying either to validate or disprove its findings.

Professor Tuan Nguyen from Sydney’s Garvan Institute of Medical Research, in collaboration with Dr Lan Ho-Pham, Head of Rheumatology at People’s Hospital 115 in Ho Chi Minh City, undertook a ‘meta-analysis’ of 44 studies, concluding that 21% of differences in bone mineral density can be explained by lean mass, 8% by fat mass. Ironically, their findings are also published in the Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism, now online.

“In the presence of conflicting findings, meta-analysis is a good method of finally resolving the issue, and is a particularly popular tool in clinical medicine,” said Professor Nguyen.

“Conflicting findings in the medical literature are the norm rather than the exception, because studies are based on different populations and use different methodologies. The variability in findings between studies can be ’ironed out’ by the meta-analysis, which weights the relative importance of each study by its information content - sample size and quality of the data.”

“While it may seem as if we are splitting hairs by trying to determine which aspect of body weight plays the more influential role, the finding is actually very important for public health – because it will guide osteoporosis prevention. If muscle mass is critical, it makes sense to recommend improvement in physical activity and muscle-building exercise.”

The analysis also points out the differences in body composition and bone density between premenopausal women and postmenopausal women. In premenopausal women, lean mass is more important than fat mass, but in postmenopausal women the effect of lean mass is comparable with the effect of fat mass on bone density. It implies that hormones and nutrition are relevant factors for preventing postmenopausal osteoporosis. In Australia, approximately 30% of postmenopausal women have osteoporosis. 

Another factor that determines bone density is genetics, which explain up to 75% of variance.

ABOUT GARVAN
The Garvan Institute of Medical Research was founded in 1963. Initially a research department of St Vincent's Hospital in Sydney, it is now one of Australia's largest medical research institutions with over 600 scientists, students and support staff. Garvan's main research areas are: Cancer, Diabetes & Obesity, Immunology and Inflammation, Osteoporosis and Bone Biology and Neuroscience. Garvan's mission is to make significant contributions to medical science that will change the directions of science and medicine and have major impacts on human health. The outcome of Garvan's discoveries is the development of better methods of diagnosis, treatment, and ultimately, prevention of disease.

Media enquiries should be directed to:
Alison Heather
Science Communications Manager
M: + 61 434 071 326
P: +61 2 9295 8128
E: a.heather "a" garvan.org.au

Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013

Khoe “sản phẩm” mới: gien FTO và gãy cổ xương đùi


Đây là một project tốn gần 3 năm mới ra lò. Đó là một nghiên cứu về ảnh hưởng của gien Fat Mass and Obesity (FTO) và gãy cổ xương đùi. Câu chuyện đằng sau của nghiên cứu là thế này. Năm 2007, gien FTO được khám phá qua một phân tích tổng hợp; lúc đó tôi viết một bài “_Technical Comment” cho Science, nhưng cuối cùng họ không đăng vì … dài quá qui định. (Có thể họ chỉ lấy cớ để từ chối thôi). Gien FTO có ảnh hưởng đến body mass index (BMI) và tiểu đường. Nhưng BMI thì có liên quan mật thiết với mật độ xương và nguy cơ gãy xương. Vì thế giả thuyết đặt ra là có mối liên hệ giữa FTO gene và gãy cổ xương đùi. 


Để kiểm định giả thuyết đó, Bích (lúc đó là nghiên cứu sinh) tiến hành phân tích polymorphisms của gien FTO của một nhóm phụ nữ bị gãy xương và một nhóm không (chưa) bị gãy. Kết quả ngạc nhiên: gien FTO đúng là có liên quan đến gãy cổ xương đùi, nhưng nó chẳng liên quan gì đến BMI. Nói cách khác, ảnh hưởng của gien FTO đến gãy xương hoàn toàn độc lập với BMI. Cơ chế là gì? Làm thêm thí nghiệm thì thấy quả thật gien này có “expressed” trong tế bào huỷ xương. Như vậy có thể có mối liên hệ thật, chứ không phải ngẫu nhiên. 

Nhưng vì đây là một phát hiện đầu tiên, nên rất khó thuyết phục các đồng nghiệp và tập san, vì họ nghi ngờ. Đi trình bày trong các hội nghị thì ai cũng khen, nhưng in trên tập san thì chuyện khác. Gửi cho mấy tập san hàng đầu (PLoS Genetics, AJHG, EJHG, JBMR, JCEM) họ duyệt xong, khen hay, nhưng … sorry. Có nơi như JBMR thì đòi phải có thêm validation study, nhưng “đào” đâu ra cả trăm ca gãy cổ xương đùi mà validation? Họ làm khó để mình nản chí và bỏ cuộc. 

Tôi thì bận theo đuổi ý tưởng khác, và bắt đầu … mất hứng. Còn Bích thì đi làm postdoc ở xa, nên nó cũng chẳng quan tâm. Thường thường mấy đứa nghiên cứu sinh nó viết xong luận án, có bằng cấp rồi, bay xa rồi, thì nó quên hết chẳng quan tâm đến bài báo gì nữa. Nhưng rồi Bích quay về Sydney, và cái paper này lại được hồi sinh. Gửi thử cho Clin Endocriol thì có may mắn. Họ đòi cũng nhiều, nhưng nói chung là ok. Sau vài tháng qua lại thì bây giờ bài báo đã được công bố online. Một số website chuyên trang cũng thích nghiên cứu này và đăng tải. Mai kia mốt nọ ai phát hiện gien này và gãy xương nhớ cite bài báo đầu tiên này của chúng tôi nhé. :-)

Đây là bài phỏng vấn của MedicalResearch.com thực hiện (chú ý họ viết sai văn phạn tiếng Anh một chỗ, đố các bạn tìm thấy :-)):


Hip Fracture Risk and Link to Obesity Gene

MedicalResearch.com: What are the main findings of the study?
Dr. Nguyen: We analyzed polymorphisms of the FTO (fat mass and obesity) gene in 934 elderly women of Caucasian background, and found that carriers of minor genotype (AA) of the SNP rs1121980 had a two-fold increase in the risk of hip fracturecompared with carriers of major genotype (GG). Approximately 20% of women are carriers of the AA genotype. We estimate that about 17% of hip fracture cases could be attributed to the variation within the gene.
MedicalResearch.com: Were any of the findings unexpected?
Dr. Nguyen: Two findings were somewhat unexpected. We postulated that the association of FTOpolymorphisms and hip fracture is medicated through body mass index (BMI), but we found that the association was actually independent of BMI.
Moreover, in this population, we found no statistically significant association between the FTO polymorphisms and BMI.
 MedicalResearch.com: What should clinicians and patients take away from your report?
Dr. Nguyen:   Finding underlines the view that susceptibility to hip fracture is partly regulated by multiple genes, and that the FTO gene may play a part in the genetic regulation. While it is too early to do a genetic test for the gene, I think clinicians should pay attention to the family history of hip fracture in the assessment of fracture risk for a woman. Also, women whose mothers have had a hip fracture should be mindful of their own risk of hip fracture.
MedicalResearch.com: What recommendations do you have for future research as a result of this study?
Dr. Nguyen: In the era of scientific reproducibility, any finding from genetic association studies requires independent validation.  Although we have formally evaluated the reliability of our finding, we still think that the finding need to be validated in independent populations.  The next step is to elucidate the mechanism(s) of the link between the FTO gene and fracture susceptibility.


Ngoài ra, một số chuyên trang về y tế và nội tiết học cũng có đưa tin: 

Endocrinology Update 


Medical News 



Asian Scientist 


Science Daily 

m=feed&utm_campaign=Feed%3A+sciencedaily%2Fhealth_medicine%2Fwomens_health+(ScienceDaily%3A+Health+%26+Medicine+News+--+Women's+Health)


Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2012

Khoe nghiên cứu mới: giá trị tham chiếu cho xương cột sống của người Việt

http://www.umm.edu/spinecenter/education/images/vertebra_fracture.jpgMấy tháng qua vì đi đây đó nên quên “khoe” vài nghiên cứu mới từ Việt Nam. Hôm nay xin có đôi lời giới thiệu một bài báo mới nằm trong công trình nghiên cứu loãng xương ở người Việt. Bài này có tựa đề [hơi dài] là “Reference ranges for vertebral heights and prevalence of asymptomatic (undiagnosed) vertebral fracture in Vietnamese men and women” và công bố trên Arch Osteoporosis hai tuần trước. Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về lĩnh vực này. Từ nay, chúng ta đã có giá trị tham chiếu để chẩn đoán gãy xương theo phương pháp định lượng. Nhưng điều tôi tâm đắc là có thêm những giá trị về hình thể xương cột sống ở người Việt, có thể có ích cho giới nhân chủng học.



Có thể nói đây là một trong những bài tôi tâm đắc nhất. Đã từ lâu, tôi muốn biết hình thể chiều cao đốt sống của người Việt ra sao, nhưng không có phương tiện và người làm. Cho đến khi công trình nghiên cứu loãng xương được phê chuẩn thì ý tưởng này nằm trong “tầm ngắm”. Đến nay thì ý tưởng đã thành hiện thực và chúng tôi có bài báo này.

Lí do cần phải đo kích thước đốt sống là phục vụ cho chẩn đoán gãy xương. Gãy xương cột sống thường xảy ra âm thầm. Cứ 3 người bị gãy xương cột sống thì chỉ có 1 ca là có triệu chứng, 2 ca kia thì không có triệu chứng gì cả. Nhưng khi có triệu chứng thì hệ quả khó lường. Vấn đề đặt ra là làm sao phát hiện sớm. Mà, để phát hiện sớm thì cần phải có tiêu chuẩn để chẩn đoán gãy xương.

Có nhiều phương pháp chẩn đoán gãy xương cột sống, nhưng tựu trung lại là 2 nhóm phương pháp: định tính và định lượng. Phương pháp định tính đòi hỏi bác sĩ phải có kinh nghiệm đọc phim X quang và phán đoán. Vì mang tính chủ quan nên phương pháp này thường cho ra kết quả sai.

http://www.biomedical.utm.my/mediteg/images/Spine/spine-over3b.gif

Hình thể xương đốt sống. Chúng tôi đo L1 đến L5 và T4 đến T12

Phương pháp định lượng thì khó khăn hơn vì cần phải có giá trị tham chiếu để chẩn đoán. Khó khăn là vì phải đo tất cả 14 đốt sống của hàng ngàn người. Theo phương pháp định lượng, chúng tôi phải đo 14 đốt sống của mỗi cá nhân. Mỗi đốt sống đo 3 chiều cao: chiều cao 2 bên lề (Ha và Hp) và chiều cao chính giữa (Hm). Sau đó, chúng tôi phải tính một loạt tỉ số. Sau cùng, chúng tôi tính giá trị trung bình và độ lệch chuẩn bằng phương pháp đặc biệt. Hai giá trị này sẽ dùng cho chẩn đoán dựa vào phương pháp định lượng. Chẳng hạn như nếu một đốt sống mà chiều cao giảm hơn 3 độ lệch chuẩn so với giá trị tham chiếu được chẩn đoán là gãy xương đốt sống.

http://testsite.iofbonehealth.org/docs/osteofound/filemanager/health_professionals/images/vert_fract_grading.gif

Phân loại gãy xương cột sống (phương pháp định tính)

Chúng tôi so sánh chiều cao đốt sống giữa người Việt, China và châu Âu. Kết quả chiều cao trung bình của thân trước, giữa, sau ở phụ nữ Việt tương đương với phụ nữ China nhưng thấp hơn so với kết quả trên người da trắng. Dựa vào kết phương pháp định lượng, chúng tôi ước tính rằng có 23% nam và 26% nữ trên 50 tuổi có gãy xương đốt sống. Tỉ lệ này rất tương đương với các sắc dân da trắng.

N.V.T

Tham khảo:

Ho-Pham LT, Mai LD, Pham HN, Nguyen ND, Nguyen TV. Reference ranges for vertebral heights and prevalence of asymptomatic (undiagnosed) vertebral fracture in Vietnamese men and women. Arch Osteoporos. 2012 Nov 7 [Epub ahead of print]

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

"Thuốc mới" cho loãng xương ở nam giới

http://menhealthguide.org/wp-content/uploads/2011/09/Prevent_Secondary_Osteoporosis_in_Men.jpgNói là “thuốc mới”, nhưng trong thực tế thì không mới. New England Journal of Medicine vừa mới công bố kết quả của một nghiên cứu quan trọng mà cộng đồng loãng xương đã trông đợi cả mấy năm nay. Đó là công trình nghiên cứu về hiệu quả của zoledronate trong việc điều trị loãng xương ở nam giới. Hiệu quả rất  khích lệ.


Rất nhiều người không biết rằng loãng xương ở nam giới là một vấn đề quan trọng. Nghiên cứu ở VN cho thấy trong số những người trên 50 tuổi, khoảng 10% bị loãng xương (theo tiêu chuẩn mật độ xương) (1). Cứ 3 người gãy xương nằm bệnh viện thì có 1 người là nam (2 người kia là nữ). Nguy cơ gãy xương ở nam giới cao hơn nguy cơ mắc bệnh ung thư tiền liệt tuyến. Tuy nhiên, vấn đề đáng quan tâm là khi nam bị gãy xương thì họ chết nhanh hơn nữ giới. Nguy cơ tử vong ở nam giới sau gãy xương tăng gấp 2 lần so với nữ giới. Những dữ liệu trên đây là thực tế, nhưng vẫn còn ít người ghi nhận!

Nhưng nghiên cứu về loãng xương ở nam giới còn rất ít và hạn chế. Có lẽ do xuất phát từ quan điểm cho rằng loãng xương là bệnh của nữ giới, nên ít người quan tâm đến nam. Có thể nói rằng nhóm chúng tôi là một trong những nhóm đầu tiên nghiên cứu loãng xương ở nam giới (2). Ngay từ đầu thập niên 1990s, chúng tôi đã có những công trình quan trọng, mà sau này NIH của Mĩ căn cứ vào đó để xác lập tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương cho nam giới. Ở Việt Nam cũng có nghiên cứu loãng xương ở nam giới, nhưng vẫn còn quá ít để hiểu biết nhiều hơn tại sao “phái mạnh” khi bị gãy xương thì lại chết nhanh như thế. Thật vậy, sự gia tăng nguy cơ tử vong sau gãy xương, nhất là ở nam giới, vẫn còn là một bí ẩn mà cho đến nay chưa có ai lí giải được.

Hiện nay, thuốc điều trị loãng xương ở nam giới còn rất ít. Theo lí thuyết sinh học, chúng ta có thể kì vọng rằng thuốc điều trị loãng xương ở nữ giới cũng có thể dùng cho nam giới. Bởi vì xương của nam hay nữ là kết tinh của quá trình huỷ xương và tạo xương, nên trên lí thuyết thuốc nào ức chế các tế bào huỷ xương thì ắt phải có hiệu quả cho cả nam và nữ. Nhưng trong thời đại y học thực chứng, đó chỉ là một giả định, chúng ta cần bằng chứng khoa học để biết có thật sự thuốc ức chế huỷ xương có thể dùng để điều trị loãng xương ở nam giới.

Một nhóm nghiên cứu đa quốc gia đã thực hiện một nghiên cứu để trả lời câu hỏi đó. Kết quả của công trình này mới công bố trên Tập san New England Journal of Medicine chỉ mới 2 ngày qua, và kết quả cho thấy một loại thuốc ức chế huỷ xương trong nhóm bisphosphonate quả thật giảm nguy cơ gãy xương ở nam giới (3).  

Có thể tóm lược công trình này như sau. Họ tuyển chọn 1199 đàn ông tuổi từ 50 đến 85 để nghiên cứu. Những cá nhân này được tuyển chọn dựa vào hai tiêu chuẩn chính: hoặc là họ từng bị gãy xương cột sống và có mật độ xương thấp hơn -1.5 (tức là osteopenia – thiếu xương), hoặc là họ chưa từng bị gãy xương nhưng có mật độ xương thấp hơn -2.5 (loãng xương). Sau khi loại trừ những bệnh nhân không đáp ứng tiêu chuẩn, họ còn lại 1107 bệnh nhân, và ngẫu nhiên chia thành 2 nhóm:
  • nhóm 1 gồm 533 người được điều trị bằng zoledronic acid, 5 mg, truyền tĩnh mạch một lần mỗi năm; và
  • nhóm 2 (nhóm chứng) gồm 574 người không được điều trị bằng zoledronic acid nhưng có cho calcium và vitamin D.
Họ theo dõi 2 nhóm bệnh nhân trong 24 tháng. Trong thời gian đó, họ ghi nhận số ca gãy xương cột sống, và so sánh tỉ lệ gãy xương giữa 2 nhóm. Kết quả như sau:

Bảng 1: Kết quả chính của nghiên cứu Boonen, et al (3)

Nhóm chứng Nhóm điều trị
Số bệnh nhân574533
Số ca gãy xương (24 tháng)289
Tỉ lệ gãy xương4.9%1.6%

Tỉ lệ gãy xương cột sống trong nhóm chứng là 4.9%, so với nhóm được điều trị là 1.6%. Nói cách khác, thuốc zoledronic acid giảm nguy cơ gãy xương cột sống khoảng 3.3% trong vòng 24 tháng. Nói theo ngôn ngữ tương đối, zoledronate giảm nguy cơ gãy xương 67% (khoảng tin cậy 95% dao động từ 30 đến 84%).

Có thể nhận định gì qua những kết quả trên đây? Theo tôi, một số nhận xét có thể đưa ra như sau. Có thể xem những nhận xét này như là bổ sung cho những gì nhóm tác giả đã đề cập trong bài báo.

Thứ nhất là kết quả trên đây rất tương đương với kết quả nghiên cứu ở nữ giới. Trước đây, đã có 2 nghiên cứu về hiệu quả của zoledronic acid ở nữ giới (4,5). Ở nữ giới, zoledronic acid giảm nguy cơ gãy xương cột sống 70%, tức rất tương đương với nghiên cứu hiện hành (Bảng 2).

Bảng 2: So sánh kết quả nghiên cứu ở nam giới và nữ giới
Nghiên cứu Nhóm chứng (số ca gãy xương / tổng số)Nhóm điều trị (số ca gãy xương / tổng số)Tỉ số nguy cơ và khoảng tin cậy 95%
Boonen, et al (3)28/574 (4.9%) 9/533 (1.6%) 0.33 (0.16 – 0.70)
Black, et al (5) 310/3861 (10.9%) 92/3875 (3.3%) 0.30 (0.24 – 0.38)
Lyles, et al (4)


Tất cả xương 139/1062 (13.9%) 92/1065 (8.6%) 0.65 (0.50 – 0.84)
Gãy xương cột sống 39/1062 (3.8%) 21/1065 (1.7%) 0.54 (0.32 – 0.92)
Gãy cổ xương đùi 33/1062 (3.5%) 23/1065 (2.0%)0.70 (0.41 – 1.19)
Tử vong 141/1062 (13.3%) 101/1065 (9.6%)0.72 (0.56 – 0.93)
Chú thích: Hai nghiên cứu của Boonen et al (3) và Black et al (5) đều dùng gãy xương cột sống là outcome. Còn nghiên cứu của Lyles et al (4) thì dùng gãy cổ xương đùi là outcome chính.
 
Điều đáng chú ý là zoledronate cũng giảm nguy cơ tử vong (giảm 28%). Nhưng chúng ta không rõ nghiên cứu mới nhất của Boonen và đồng nghiệp có ghi nhận số ca tử vong giữa hai nhóm hay không.

Thứ hai là cách mô tả hiệu quả. Các tác giả chỉ cho biết tỉ số nguy cơ mà không trình bày kết quả mà giới lâm sàng quan tâm: cần phải điều trị bao nhiêu bệnh nhân để giảm một ca gãy xương. Tuy nhiên, dùng dữ liệu của tác giả, tôi có thể ước tính rằng câu trả lời là 30 bệnh nhân. Cần điều trị 30 bệnh nhân trong 2 năm để ngăn ngừa một ca gãy xương. Với cái giá khoảng 400*30*2 = 24,000 USD tôi nghĩ đó là cái giá có thể chấp nhận được cho bệnh nhân phương Tây, nhưng ở VN thì tôi không rõ cái giá đó có “kinh tế” không.

Thứ ba là thuốc cũng có gây ra vài phản ứng. Bảng dưới đây trình bày một số phản ứng của thuốc, nhưng nhóm tác giả nghĩ rằng không có dính dáng gì đến thuốc. Ngoài ra, không thấy tác giả báo cáo những chứng như sốt, đau cơ xảy ra lúc nào; rất có thể chỉ vài phút sau khi truyền thuốc.

Bảng 2: Phản ứng sau khi điều trị với zoledronate của nghiên cứu Boonen, et al (3)

Nhóm chứng
(số ca và %)
Nhóm điều trị
(số ca và %)
Số bệnh nhân611588
Nhồi máu cơ tim2 (0.3%)9 (1.5%) *
Sốt (pyrexia)23 (3.8)143 (24.3) *
Đau cơ (myalgia)25 (4.1)129 (21.9) *
Phong thấp (arthralgia)68 (11.1)123 (20.9) *
*: có ý nghĩa thống kê (P < 0.05)

Thứ tư là trong nghiên cứu mới này, tác giả bắt đầu ứng dụng phương pháp Bayes để phân tích. Có lẽ tôi là một trong vài người trong lĩnh vực này xiển dương phương pháp Bayes trong các công trình RCT (6). Sau này có thêm vài đồng nghiệp bên Canada cũng tiếp sức quảng bá Bayes, nhưng cho đến nay, vẫn còn quá ít ứng dụng phương pháp này. Tập san New England Journal of Medicine là một diễn đàn tương đối bảo thủ, nhưng lần này họ bắt đầu cho tác giả ứng dụng phương pháp Bayes để đánh giá hiệu quả của một liệu pháp điều trị. Kết quả phân tích theo phương pháp Bayes cho thấy quả thật hiệu quả của zoledronate có ý nghĩa thực tế lâm sàng.

Tóm lại, kết quả nghiên cứu mới nhất cung cấp cho bác sĩ thêm một loại thuốc để điều trị loãng xương. Những thuốc hiện hành điều trị loãng xương ở nam giới là alendronate (có lẽ lâu đời nhất), strontium ranelate (mới hơn alendronate), và denosumab (phê chuẩn cho nam giới đang được điều trị ADT – androgen deprivation therapy). Nay thì bác sĩ có thêm zoledronic acid trong kho “vũ khí” phòng chống loãng xương ở nam giới.

Tham khảo: 

1. Ho-Pham LT, et al. Reference Ranges for Bone Mineral Density and Prevalence of Osteoporosis in Vietnamese Men and Women. BMC Musculoskel Dis 2011;12:182. 

2. Nguyen TV, et al. Risk factors for osteoporotic fractures in men. Am J Epidemiol 1996;144:255-63.

3. Boonen S, et al. Fracture risk and zoledronic acid therapy in men with osteoporosis. N Engl J Med 1/11/2012.

4. Lyles KW, et al. Zoledronic acid and clinical fractures and mortality after hip fracture. N Engl J Med 2007;357:1799-809.

5. Black DM, et al. Once yearly zoledronic acid for treatment of postmenopausal osteoporosis. N Engl J Med 2007; 356:1809-22.

6. Nguyen TV. Interpretation of randomized controlled trials of fracture prevention. IBMS BoneKEy 2009;6:279–294.