Hiển thị các bài đăng có nhãn giáo dục đại học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giáo dục đại học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2015

Sứ mệnh nghiên cứu của giáo dục đại học

Nhân dịp đầu năm, tôi muốn chia sẻ cùng các bạn vài suy nghĩ của tôi về sứ mệnh của giáo dục đại học. Thật ra, đây là một bài nói chuyện nhân dịp Trường ĐH Tôn Đức Thắng được cấp 2 bằng sáng chế. Hôm đó, Trường có nhã ý mời tôi nói chuyện với tư cách là một giáo sư thỉnh giảng và giám đốc một lab nghiên cứu ở đây. Tôi vốn quen nói chuyện không có giấy tờ, nhưng lần này Trường nói phải có giấy tờ đàng hoàng (và bản tiếng Anh cho khách nước ngoài nữa) nên tôi phải soạn bài nói chuyện nghiêm chỉnh. Bây giờ thì việc đã xong nên tôi có thể post lên đây để chia sẻ cùng các bạn.
NVT

 *****


Sứ mệnh nghiên cứu của giáo dục đại học
(Bài nói chuyện tại ĐH Tôn Đức Thắng, 8/2/2015)


Kính thưa quí khách,
Kính thưa quí đồng nghiệp,

Tôi rất vinh hạnh có mặt tại đây, ngày hôm nay, để chia sẻ niềm vui và chúc mừng Trường Đại học Tôn Đức Thắng vừa được Cục quản lí bằng sáng chế Hoa Kì (USPTO) cấp bằng sáng chế đầu tiên, và được “gắn sao”. Đây là một thành tựu đáng tự hào của một trường đại học "trẻ" và đang trong thời kì mà nền giáo dục còn nhiều dao động và khó khăn.

Tôi được ban tổ chức mời phát biểu nhân dịp này, với tư cách là một cố vấn của Trường, một giáo sư thỉnh giảng, và một người đang điều hành một nhóm nghiên cứu tại Trường. Tôi suy nghĩ và tự hỏi mình sẽ nói gì nhân ngày vui này, và tôi nghĩ có lẽ đây là dịp để tôi chia sẻ cùng các bạn những suy nghĩ của tôi về sứ mệnh của giáo dục đại học. Đây là một vấn đề không mới, nhưng vẫn còn giá trị thời sự ở nước ta.

Sứ mệnh của giáo dục đại học

Theo tôi, sứ mệnh của giáo dục đại học là theo đuổi 3 lí tưởng: sáng tạo ra tri thức mới, chuyển giao tri thức và kĩ năng đến sinh viên, và phụng sự xã hội. Sáng tạo ra tri thức mới qua nghiên cứu khoa học gần như là một căn cước tính của một thiết chế xã hội có danh xưng "đại học". Chuyển giao tri thức và kĩ năng được thực hiện qua giảng dạy, được xem như là một sứ mệnh mặc định của đại học. Kĩ năng dĩ nhiên không chỉ đơn thuần là kĩ thuật và công nghệ, mà còn là kĩ năng sống. Đại học là một thiết chế xã hội, và không thể đứng ngoài xã hội. Vì thế, một sứ mệnh quan trọng của đại học là phục vụ cho cộng đồng, quốc gia, qua cố vấn, phản biện, và góp phần chuyển giao công nghệ.

Tôi muốn nói thêm về sứ mệnh nghiên cứu của đại học. Nghiên cứu khoa học đã trở thành một lí tưởng cốt yếu, một mục tiêu mang tính mặc định của giáo dục đại học hiện đại. Như tôi nói ở trên, một sứ mệnh quan trọng của đại học là sáng tạo ra tri thức mới, mà tri thức mới chỉ được sáng tạo qua nghiên cứu khoa học. Tri thức dẫn đến cách tân về công nghệ và kĩ nghệ. Do đó, bất cứ nước nào trên thế giới đều nhận thức rằng đại học nghiên cứu là chìa khóa, là tài sản quan trọng của nền kinh tế tri thức trong thế kỉ 21.

Đối với đại học, nghiên cứu khoa học còn có một ý nghĩa rất thực tế: đó là vị trí trên trường quốc tế. Hiện nay, chưa có đại học nào của Việt Nam nằm trong danh sách các đại học hàng đầu thế giới. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào danh sách 100 hoặc 200 đại học hàng đầu thế giới, chúng ta thấy đặc điểm chung là gì? Xin trả lời ngay: là năng lực nghiên cứu khoa học. Tôi đã bỏ công phân tích và đi đến kết luận rằng nghiên cứu khoa học đóng góp 60% vào vị trí của một đại học trong các bảng xếp hạng đại học toàn cầu.

Nghiên cứu khoa học

Năng lực nghiên cứu khoa học thường được thể hiện qua công bố quốc tế. Thật vậy, trên thế giới, người ta dùng số lượng và chất lượng công bố quốc tế để đánh giá và xếp hạng các quốc gia trên trường khoa học. Trong năm 2014, số liệu của Viện thông tin khoa học Hoa Kì (ISI) cho thấy Việt Nam công bố được 2327 bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế. Con số này tăng gần gấp 2 so với 5 năm trước. Đó là một tin mừng. Nhưng con số đó chỉ mới so sánh với thời gian trước, chúng ta phải biết mình đang ở đâu trong khu vực. Xin trả lời ngay rằng con số công bố quốc tế của VN chỉ bằng 1/3 của Thái Lan, 1/4 của Malaysia và 1/5 của Singapore. Như vậy, so với các nước trong vùng, năng suất khoa học của VN nói chung còn kém.

Nhưng đó không hẳn là một tin buồn, mà phải xem đó là một cơ hội để phấn đấu. Phấn đấu phải xuất phát từ các đại học. Trường đại học Tôn Đức Thắng sở dĩ được công nhận 3 sao cũng nhờ vào một phần qua công bố quốc tế. Trong 5 năm qua, Trường đã công bố được khoảng 110 công trình khoa học. Điều đáng nói là gần 46% số này được công bố chỉ trong năm 2014. Khoảng 60% công bố quốc tế của đại học Tôn Đức Thắng là do nội lực. Nói như thế để thấy rằng một trường còn “trẻ” nhưng đã có thành tựu như thế là đáng tự hào, và có xu hướng phát triển nhanh.

Nhưng chúng ta không bao giờ được tự mãn. Thành tích về công bố quốc tế chỉ mới là bước đầu, căn bản của một đại học. Khía cạnh quan trọng hơn là chất lượng nghiên cứu. Một trường đại học có thể có hàng ngàn nghiên cứu được công bố hàng năm, nhưng nếu chỉ công bố trên những tập san "làng nhàng", hoặc chẳng ai đề cập đến, hoặc chẳng đóng góp gì đáng kể cho chuyên ngành, thì chỉ là một đống giấy vô nghĩa. Do đó, cần phải quan tâm đến chất lượng nghiên cứu và tác động của nghiên cứu. Khoa học khuyến khích suy nghĩ đến những vấn đề lớn, những tầm nhìn dài và xa. Nên tránh những đề tài tủn mủn, những đề tài "ăn theo" vốn rất phổ biến ở Việt Nam hiện nay. Việt Nam có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu, nhưng phải là nghiên cứu tốt, nghiên cứu có lí do chính đáng. 

Hợp tác và xây dựng nội lực

Tôi nghĩ có "sao" là một thành tựu quan trọng và đáng kể. Nhưng quan trọng hơn là duy trì được vị trí sao đó. Thật ra, thách thức trong tương lai không chỉ là duy trì, mà còn phát triển và qua đó nâng cao vị trí của trường. Chúng ta cần phải làm nhiều việc để duy trì và phát triển. Nhưng tôi nghĩ ngay đến 2 việc chính: hợp tác nghiên cứu khoa học và xây dựng nội lực.

Hợp tác trong nghiên cứu khoa học có thể ví von như là những dòng chảy khoa học. Khoa học ngày nay là một nỗ lực tập thể. Cái ngày mà khám phá xuất phát từ một cá nhân nhà khoa học đã lùi vào dĩ vãng rất xa xăm. Chúng ta thấy rằng ngày nay, các giải thưởng Nobel thường được trao cho một nhóm nhà khoa học, chứ không phải chỉ một nhà khoa học độc nhất như những năm đầu thế kỉ 20.

André Gide, một nhà văn danh tiếng người Pháp (Giải Nobel Văn học 1947), từng nói rằng nghệ thuật là một sự hợp tác giữa Thượng đế (hay thần thánh) và người nghệ sĩ. Trong khoa học không có thượng đế hay thần thánh, nhưng tôi có thể nói rằng khoa học cũng là một sự hợp tác, nhưng hợp tác giữa người với người.

Khi chúng ta làm việc chung với nhau, chúng ta xây dựng tầm nhìn cho chính mình, nhưng quan trọng hơn là tầm nhìn của người khác sẽ bổ sung vào tri thức của chúng ta, và khi cả hai tầm nhìn được hợp lại chúng ta có một cái nhìn đầy đủ hơn và tốt hơn. Chính nhờ vào hợp tác mà biên cương khoa học mới lúc nào cũng được mở rộng. Ngược lại, không có hợp tác, chúng ta sẽ bị hạn hẹp về tầm nhìn, và khoa học khó có cơ may phát triển.

Nhưng tôi phải mở ngoặc để nói thêm rằng hợp tác nghiên cứu là để chúng ta xây dựng nội lực, chứ không phải lệ thuộc. Tôi nghĩ đây là một khía cạnh quan trọng cần phải lưu ý, đặc biệt đối với các đại học ở Việt Nam. Tại sao tôi nói thế? Trong khoảng 10 năm trở lại đây, khoảng 75-80% các công trình khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học trong danh mục ISI và Scopus là do hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài. Nói cách khác, các đồng nghiệp nước ngoài đến VN, đề ra ý tưởng, và có thể cả tài trợ cho nghiên cứu, và do đó, không ngạc nhiên họ đóng vai trò chủ đạo trong công bố quốc tế. Nói các khác, nếu không có sự hỗ trợ hay hợp tác với họ, con số công bố quốc tế của VN không đáng kể. Một cách khác để hiểu là: khoa học VN đang trong tình trạng hay có nguy cơ lệ thuộc vào nước ngoài.

Tôi nghĩ quí vị và đồng nghiệp đồng ý với tôi là chúng ta cần hợp tác, và không nên lệ thuộc. Để không lệ thuộc, các đại học VN cần phải xây dựng nội lực. Xây dựng qua năng lực nghiên cứu và hợp tác. Mỗi một dịp hợp tác cần phải biến thành một cơ hội để học hỏi và rút kinh nghiệm. Nếu hợp tác mà không học hỏi được gì thì có thể xem như là một thất bại. Nên xem hợp tác khoa học để không trở thành lệ thuộc vừa là mục tiêu, vừa là thành quả.

Một sự thật đơn giản là: sự thịnh vượng của một quốc gia phụ thuộc vào nhân tài của quốc gia đó. Tương lai của Việt Nam trong thế kỉ này và mai sau tuỳ thuộc vào mỗi công dân được trang bị kiến thức, kĩ năng, và đạo đức cho một cuộc sống phong phú và trọn vẹn trong một xã hội dân chủ, công bằng, và bác ái. Giáo dục đại học đóng vai trò trung tâm cho lí tưởng đó, qua nghiên cứu khoa học, chuyển giao tri thức, và phụng sự xã hội.

Thành thật cám ơn quí vị và quí đồng nghiệp đã có mặt ngày hôm nay.


English version 
Research Mission of University Education
 (Talk given at the Ton Duc Thang University, February 8, 2015)


Ladies and gentlemen,
Friends and colleagues,

It is my pleasure to be here today to share the good news with you. As you all know, the Ton Duc Thang University is conferred a 3-star status university. Moreover, the USPTO has granted the first 2 patents to the University for its invention in health technology. It is also the first Vietnamese university that has owned US based patents. These latest  developments represent a significant achievement of a relatively “young” university with so many difficulties and challenges.

For this special occasion, the organizing committee has kindly asked me to speak as an advisor, visiting professor, and director of a research laboratory. I have thought long and hard on what I would say, and I decided to share with you my perspectives on the mission of university education. I must admit that this is not a new theme, but it is highly relevant to the current climate of higher education in Vietnam.

Missions of university education

To me, university education pursues three key missions: creation of new knowledge, student learning, and community engagement. University is where knowledge is created by original research. Student learning, an embedded mission of any university, includes not just acquiring core skills, but also challenging students' approach and view of the world, and sharing experience with other students. University is a social institution, and has the obligation to translate knowledge and learning to improve the welfare of communities and their citizens. Research, learning, and community services are 3 key missions of a university.

I would like to elaborate a little bit more on the research mission. To me, as an academic and a scientist, research is a cardinal value and a purpose of university education. As I mentioned above, research can generate new data which are then transformed into knowledge. Knowledge in turn helps innovate technology and industry. It is thus not surprising that many people would view university as a key asset for success in a knowledge economy in the 21stcentury.   

Research missions of university

For any modern university, research plays a very critical role in university ranking. I myself have spent some time to analyze the ranking data, and found that research output and impact contribute up to 60% of a university's relative position in many league tables. Indeed, a close reading of leading universities in league tables reveals a common denominator: they are all research oriented universities. At present, none of Vietnamese universities is in any list of world's top universities, because research output from Vietnamese universities is still very modest compared with comparable universities in the region.

We all know that the research capacity of a university is commonly assessed in terms of publication output and societal impact. Indeed, most league tables of leading universities use the two metrics for ranking. Data from the Thomson's Institute of Scientific Information indicate that in 2014, Vietnam produced 2327 papers in international peer-reviewed journals. This number represents a 2-fold increase compared with 5 years ago. That is a good news. However, we have to know where we are standing in the region, and I am afraid to say that our position is not that high. Currently, the research output of Vietnam is only 1/3 of Thailand, 1/4 of Malaysia and 1/5 of Singapore. Some may see that position as a bad news, but I would like to see it as an opportunity for further building research capacity.

The recognition of 3-star status for Ton Duc Thang University is also in part based on its research base.  During the past 5 years, the University has published around 1110 original papers in international peer-reviewed journals. Approximately 45% of this output was achieved in 2014 alone – suggesting a rapid upward trajectory. More importantly, about 40% of the output was resulted from national and international collaboration – suggesting an effort of internationalization of the University.

We should never be complacent. A good publication output is only the beginning for a research university. A more important aspect of research is quality / impact. A university can publish thousands of papers in academic journals, but if most of the papers are in mediocre journals and/or have no citations, then those papers are more or less meaningless. We have to pay attention to research quality and impact. We have to think big and think outside the box. We need more research, better research, but research done for the right reasons. 


Collaboration and capacity building

Being conferred 3star status is a significant achievement. However, it is even more important to maintain the status. Actually, one of the University's challenges in the future is to improve the rating. We must work harder to maintain and to advance the University's status in the future. There are many things we can do, but I am thinking of collaboration in research, and capacity building.

Scientific collaboration is commonly seen as a norm, even a virtue in modern research enterprise. Scientific research nowsadays is very much a collaborative endeavor, with many colleagues working on the same project. I myself collaborate with more than 20 colleagues from Asia, Europe, and the US. "Big Science" has arrived, and the image of a lonely genius working in isolation is history. Modern science is increasingly complex, and the complexity calls for collaboration from scientists of multiple disciplines. We have seen that in recent time, Nobel prizes are commonly given to teams of researchers.

There are good reasons to collaborate in scientific research. One of my favorite authors, André Gide, used to say that "Art is a collaboration between God and the artist". In the same vein of thinking, I think we can say that scientific research is a collaboration between men. Research insights can be gained from collaboration, and such insights complements the knowledge of individual scientists. My practical experience suggests that collaboration also enhances research productivity. Scientific collaboration always open a new frontier for research, and lack of collaboration always limits the opportunity for development.

However, I must add that for universities in developing countries, research collaboration is a way to buildresearch capacity. To me, research capacity is an infrastructure of science for a country. A country with strong research capacity is less likely to be dependent on other countries to develop science. During the past 10 years, between 75 and 80% of Vietnamese scientific output have been resulted from international collaboration. While collaboration is a good endeavor, I am concerned that the high level of collaboration puts the country at great risk of scientific dependency.

I think we all agree that Vietnamese universities need to increase national and international collaborations in scientific research. However, collaboration should be done for the purpose of capacity building, not just simply improving research productivity. Acquiring new experience and reducing dependency should be seen as endpoints as well as outcomes in any research collaboration.

A simple fact is that talent matters. The prosperity of Vietnam really comes from her citizens with talent and skill that are equipped by universities. Thus, for a successful knowledge-driven economy, research, learning and community engagement should constitute the key missions of the Vietnamese university education.

Thank you very much for your attention, and thank you all for being here.

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2014

Khoa học & giáo dục: có nên chạy theo “sao”?

Quan sát nền giáo dục VN hiện nay, tôi thấy có một vấn đề, đó là tình trạng chuộng chạy theo "sao". Giáo dục trung học thì chạy theo huy chương Olympic quốc tế. Giáo dục đại học thì mơ có tên trong các bảng xếp hạng đại học hàng đầu thế giới. Khoa học thì mơ đến giải Nobel.

Từ "sao" Olympic đến "siêu sao" Nobel
Các kiểu "sao" như huy chương Olympic thường được các nhà chức trách đưa ra để đối phó với ý kiến phê phán thành tích giáo dục của VN. Thế nhưng trong thực tế, mối tương quan giữa số lượng huy chương Olympic và thành tựu của một nền giáo dục là rất yếu. Dù đoạt ít huy chương Olympic hơn VN, nền giáo dục các nước phương Tây lại là điểm đến mà nhiều học sinh VN mong đợi.
Vô vàn nỗ lực, đầu tư được đổ ra để mang về giải thưởng Olympic, đến mức trở thành một loại kĩ nghệ: kĩ nghệ luyện "gà chọi". Nhưng được giải xong làm gì thì chưa rõ ràng. Một số em sau khi đoạt huy chương thú nhận là phải đổi ngành nghề học, chứ cũng không theo đuổi môn học đã được luyện thành "gà chọi".
Gần đây người ta đang nhắc đến tình trạng "tị nạn giáo dục", khi những gia đình có khả năng kinh tế gửi con em sang học các nước phương Tây, những nước không có kĩ nghệ luyện "gà chọi". Kĩ nghệ gà chọi có thể giúp ích cho một thiểu số học sinh, nhưng không giúp gì cho đại đa số học sinh trung học và tiểu học.
Xu hướng theo đuổi "sao" cũng rất rõ nét trong giáo dục đại học. Có thời gian, đi đâu cũng nghe người ta nói đến giấc mơ có một vài đại học đẳng cấp thế giới. Nhà nước thậm chí còn có kế hoạch chọn vài đại học để xây dựng thành đại học đẳng cấp thế giới.
Chẳng những chạy theo sao "đẳng cấp quốc tế", VN còn chạy "sao"... Nobel. Vì một trong những tiêu chuẩn cao để có tên trong bảng xếp hạng đại học đẳng cấp thế giới là giáo sư được trao giải Nobel.
Thế là một đại học lớn kí hợp đồng với một tập đoàn kinh tế để xây dựng kế hoạch có giải Nobel. Tuy nhiên, sự có mặt của một "siêu sao", cho dù đó là sao Nobel, có thể giúp gây tiếng vang, cũng không thể nào vực dậy một nền giáo dục.
Nhiều "sao" giúp gì cho phát triển bền vững?
Do đó, đã đến lúc phải đặt câu hỏi một cách nghiêm túc: có cần chạy theo "sao"? Có cần xây dựng một kĩ nghệ luyện "gà chọi" chỉ để có huy chương Olympic? Có cần chạy theo bảng xếp hạng các đại học hàng đầu thế giới? Có cần phải chạy theo giải Nobel?
Tại sao không đặt câu hỏi thực tế hơn và căn bản hơn: làm gì để xây dựng một nền tảng vững vàng và một cái đà (momentum) để phát triển lâu dài một cách bền vững? Theo thiển ý cá nhân, tôi cho rằng chính sách chạy theo sao không giúp gì cho những mục tiêu này.
Để minh hoạ, thử tưởng tượng chúng ta có 2 dãy số liệu của 2 nước A, B, thể hiện số bài báo khoa học công bố quốc tế của 6 trường đại học tại mỗi nước:
Nước A:    1,  1,   1,    2,    2,   53
Nước B:    8,  9,  10,  10,  11,  12
Cả hai nước đều có trung bình là 10 và tổng số là 60. Nhưng hai dãy số rất khác nhau về phẩm chất. Tại nước A, có một đại học có số công bố quốc tế rất lớn, có thể xem là ngoại vi (53). Nếu bỏ giá trị này, số trung bình của nước A chỉ còn 1,4, chứng tỏ sự phát triển của nước A không ổn định.

Trong khi đó, tại nước B, tất cả số liệu đều trong phạm vi kì vọng, loại bỏ một giá trị trong dãy số liệu cũng không làm thay đổi đáng kể giá trị trung bình. Do đó, rõ ràng nước B có phẩm chất cao và ổn định hơn nhiều so với nước A.

Hình dung tương tự, nếu đại đa số các trường đại học đều "làng nhàng" và chỉ có một trường đạt đẳng cấp thế giới, thì đó là một trường hợpngoại vi. Nếu loại bỏ trường hợp ngoại vi kia, tất cả sẽ quay lại thực chất là "đẳng cấp" làng nhàng.
Hàm ý của phát biểu trên là tập trung vào phát triển một đại học thành sao đẳng cấp quốc tế mà bỏ bê các đại học khác không giúp gì trong việc phát triển động lực (momentum) cho nền giáo dục.
Cũng như vậy, nếu VN có 1 (hay "rộng rãi" hơn, có 2) nhà khoa học được giải Nobel thì cũng không giúp ích gì cho khoa học nước nhà. Bởi điều đó không giúp thay đổi tình trạng có 24.000 tiến sĩ và hơn 10.000 giáo sư và phó giáo sư, nhưng năng suất khoa học lại thua kém cả các nước trong khu vực. Đáng lẽ chúng ta cần có một nội lực như nước B trong ví dụ trên.
Xây dựng nội lực thay vì chạy theo sao
Xét cho cùng, chính sách hay xu hướng "đuổi theo sao" thể hiện tư duy nặng hình thức hơn là thực chất. Song nghiên cứu của những nhà khoa học chạy theo danh hiệu, thay vì từ mong đóng góp cho tri thức cho nhân loại, sẽ khó có được phẩm chất cao. Giải Nobel không có được từ hợp đồng nào cả, mà từ nghiên cứu khoa học có phẩm chất cao.
Sự xuất hiện của một hay vài ngôi sao giáo dục và khoa học không chỉ là "món ăn" tuyệt vời cho truyền thông, mà còn là một liều thuốc "an thần" cho cộng đồng đang hoài nghi hiệu quả của nền giáo dục và đẳng cấp của nền khoa học. Có vài ngôi sao, cộng thêm sức mạnh của truyền thông, người ta sẽ an tâm rằng người Việt cũng thông minh và tài ba chẳng thua kém ai. Nhưng nếu bình tĩnh nhìn bức tranh lớn thì những sao đó chỉ là những "giá trị ngoại vi", có hay không có họ cũng không làm thay đổi cục diện chung.
Có một câu trong bóng đá: "Phong độ chỉ là nhất thời, đẳng cấp mới là mãi mãi". Một quốc gia có thể có 1 đại học đẳng cấp quốc tế, nhưng không giữ được vị trí đó thì cũng chẳng có ý nghĩa gì. Cho dù có giữ được vị trí đó, nhưng 99% các đại học còn lại đều làng nhàng thì cũng không có gì đáng tự hào.
Một phép tính đơn giản về công bố quốc tế. Chúng ta chọn phương án (a) tập trung vào một đại học "sao" để công bố 2.000 bài mỗi năm, và 9 trường đại học khác mỗi trường công bố 50 bài; hay (b) xây dựng năng lực để mỗi đại học công bố được trung bình 300 bài mỗi năm? Dĩ nhiên chúng ta chọn phương án 2 vì tính bền vững và nội lực cao. Sức mạnh của đám đông lúc nào cũng hơn sức mạnh của một cá thể, cho dù cá thể đó đẳng cấp "sao".
Do đó, tôi nghĩ rằng thay vì mải mê theo đuổi những ngôi sao, hay những "giá trị ngoại vi", VN cần tập trung tài lực để (a) xây dựng cơ sở vật chất và nội lực để làm "bệ phóng" cho phát triển trong tương lai; và (b) xây dựng động lực và năng lực nghiên cứu khoa học để có khả năng duy trì sự phát triển một cách ổn định và bền vững.

Bài đã đăng trên Tuần Việt Nam:
http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/194415/ich-loi-gi-neu-viet-nam-co-giai-nobel-.html

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Không thể lắp “cỗ máy” đại học nước ngoài vào VN

Tôi nghĩ những đề nghị cải cách giáo dục theo hướng các nước “tiên tiến” sẽ không bao giờ thành công ở VN. Xin nói rõ “tiên tiến” ở đây là các nước Âu Mĩ hay các nước theo thể chế và hệ thống Âu Mĩ, nói thẳng ra là các nước theo tư bản chủ nghĩa (TBCN). Vì thể chế VN căn bản vẫn là XHCN, nên không thể nào lắp đặt bộ máy của TBCN vào XHCN được. Chính sự khác biệt căn bản này có thể giải thích cho rất nhiều bất cập hiện nay ở VN.


Thử nhìn cái vỏ tắc ráng ở miền Tây. Nó được thiết kế chở khoảng 4-5 người hoặc ít hơn, dài độ 5 thước, bề ngang khoảng là 1.5 m. Vỏ tắc ráng có máy đuôi tôm như máy BS9 hay BS10. Thử tưởng tượng, chúng ta đem đầu máy xe hơi như Toyota gắn vào vỏ tắc ráng thì chuyện gì sẽ xảy ra. Thứ nhất là họ gây ô nhiễm môi trường, rất ồn ào, tiếng máy lớn đến nỗi đinh tai nhức óc cư dân hai bên bờ sông. Nó chạy rất nhanh, nhưng đồng thời gây sóng lớn, và làm chìm xuồng và gây thiệt hại cho những người bơi xuồng. Về thẩm mĩ, cái đầu máy bự “tổ chảng” trong khi cái vỏ thì chỉ nhỏ thó, nhìn rất dị hợm, chẳng giống ai. Nói tóm lại, gắn cái đầu máy xe hơi vào vỏ tắc ráng chẳng những làm cho hình ảnh cái vỏ bị méo mó, mà còn gây tác hại đến môi trường và người dân. Điều này chắc không khó hiểu, vì cái động cơ đó được thiết kế cho xe hơi trên đường bộ, chứ đâu được thiết kế cho vỏ tắc ráng trên sông.

Vỏ tắc ráng ở miền Tây sông nước 


Dùng hình tượng trên, tôi nghĩ việc áp đặt hay áp dụng các cơ chế về giáo dục ở các nước TBCN vào Việt Nam XHCN sẽ khó thành công. Trước hết, có thể lấy việc tự trị đại học làm ví dụ để hiểu vấn đề. Ở nước TBCN như Úc chẳng hạn, mỗi đại học ra đời là có một đạo luật riêng cho đại học đó, và đạo luật dĩ nhiên là do Quốc hội thông qua (rất khác với VN, đại học thường do Bộ GDĐT phê chuẩn). Trong đạo luật không có ghi rõ về autonomy (mà thường hay được dịch sang tiếng Việt là “tự trị”), nhưng trong thực tế, không chỉ là tự trị mà còn tự chủ. Tôi có thể lấy ví dụ như sau:

• Đại học tự trị bởi có một cái board (có nơi gọi là council), và thành viên trong board là hiệu trưởng đại học VÀ các nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng được chọn hàng năm. Các nhân vật này có thể là cựu chánh án, CEO của các tập đoàn nổi tiếng, giám mục, nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội, thậm chí có cả cựu chính trị gia. Nói chung, họ thật sự là “khuôn mặt” của cộng đồng. Một số thành viên là do Bộ trưởng Giáo dục bổ nhiệm, một số thì do bầu cử, một số do chỉ định. Thời gian phục vụ trong board cũng có giới hạn chứ không vô hạn định.

• Đại học tự chủ về mặt tài chính, hoạt động đào tạo và nghiên cứu, và nhân sự. Trường chịu trách nhiệm về thu chi tài chính trước board của đại học. Trường hoạch định chương trình giảng dạy và đào tạo, nhưng có tham khảo với các hiệp hội chuyên môn. Nghiên cứu khoa học do mỗi nhà khoa học tự định hướng. Trường bổ nhiệm và đề bạt nhân sự khoa bảng. Tất cả các hoạt động trên đều không có sự can thiệp của chính phủ.

Giả dụ như đại học VN được cho quyền tự trị và tự chủ, hiểu theo nghĩa Bộ Giáo dục & Đào tạo không điều khiển và không can thiệp vào chương trình đào tạo, tuyển sinh, và tuyển dụng / đề bạt nhân sự. Đó có lẽ là những gì nhiều người đang lớn tiếng đòi. Nhưng vấn đề là sau đó thì họ sẽ làm gì? Thử tưởng tượng nếu họ đem cái thiết chế của nước ngoài (mà tôi vừa mô tả) “lắp” vào một đại học ở VN mới được trao quyền tự trị và tự chủ, chuyện gì sẽ xảy ra.

Ở VN tất cả đều chịu sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Đại học cũng chịu sự lãnh đạo của đảng cộng sản, và chi bộ là một thể hiện sự lãnh đạo đó. Mấy năm gần đây, đại học cũng có hội đồng quản trị, trên danh nghĩa giống như board ở đại học nước ngoài, nhưng thực chất thì không. Làm sao hội đồng quản trị có sự đại diện của các tổ chức cộng đồng thực sự, khi mà tất cả các tổ chức cộng đồng đều chịu sự lãnh đạo của đảng. Cho dù có tổ chức tôn giáo hay tổ chức dân sự độc lập với đảng, nhưng đảng và Nhà nước không công nhận, thì họ sẽ không bao giờ có đại diện trong board của đại học. Hay như thành viên là chánh án, nhưng chánh án ở VN thì lại không độc lập với Nhà nước và thường là đảng viên. Do đó, trong cái hệ thống thể chế hiện nay, đại học VN sẽ KHÔNG BAO GIỜ có một board / council như các đại học phương Tây.

Bây giờ thử bàn về tự chủ. Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của tự chủ là bổ nhiệm các chức vụ điều hành đại học và giáo sư. Ở các đại học nước ngoài, như tôi nói, các đại học toàn quyền bổ nhiệm và đề bạt giáo sư. Người kí giấy bổ nhiệm tôi là hiệu trưởng, và qui trình đánh giá và bổ nhiệm tôi là việc của một hội đồng khoa bảng của trường. Ở trường UNSW, việc bổ nhiệm hiệu trưởng là do board đảm nhận. Thường, họ lập một “uỷ ban tìm hiệu trưởng”, họ quảng cáo khắp thế giới và trên các tập san khoa học quốc tế. Uỷ ban đó có nhiệm vụ xem xét và đánh giá đơn của ứng viên, đến khi có danh sách các ứng viên có tiềm năng cao, uỷ ban trình lên board, và phỏng vấn sẽ được thực hiện. Ứng viên tốt nhất sẽ được board bổ nhiệm – tức kí hợp đồng 5 năm. Quyết định bổ nhiệm hiệu trưởng hay giáo sư không có can thiệp của Chính phủ. Một qui trình như thế tốn khoảng 1-2 năm.

Nhưng một qui trình tự chủ như thế không thể thực hiện ở VN trong điều kiện hiện nay. Theo qui định, hiệu trưởng phải là đảng viên (ngay cả đại học tư thục, hiệu trưởng vẫn phải là đảng viên), nên việc tìm hiệu trưởng nước ngoài là điều không thể. Còn ở trong nước thì phải theo qui trình ở trong nước: đó là “qui hoạch” cán bộ. Mà, qui hoạch thì phải chịu sự chi phối của đảng và Nhà nước. Còn việc bổ nhiệm hay tuyển dụng giáo sư cũng không thể làm theo nước ngoài. Thứ nhất, VN chưa có đủ số giáo sư có khả năng giảng dạy và nghiên cứu để trường đại học có thể quảng cáo. Nếu quảng cáo tìm giáo sư nước ngoài thì các đại học VN không có tiền để trả lương, và ngay cả có tiền trả lương thì các giáo sư nước ngoài có thể sẽ không đến VN vì đại học VN chưa có cái prestige để thu hút họ. (Ít ai dám hi sinh sự nghiệp đang lên cho một nơi mình chưa biết tương lai ra sao). Thứ hai, cho dù không có sự can thiệp của Bộ GDĐT (vì đã tự chủ) nhưng vẫn có sự can thiệp của đảng, bởi vì chi bộ đảng vẫn còn ở trường và họ phải có tiếng nói. Do đó, các đại học VN không thể tự chủ trong vấn đề tuyển dụng nhân sự ở đại học như các đại học phương Tây.

Có thể lấy chương trình đào tạo ra làm một minh hoạ khác. Ở các đại học nước ngoài, một chương trình đào tạo được thiết kế có sự tham vấn của các hiệp hội chuyên môn (các hiệp hội này độc lập với Nhà nước). Lí do đơn giản là trường đại học đào tạo sinh viên để đáp ứng nhu cầu của kĩ nghệ, nên các course học chuyên môn mang tính ứng dụng cao cần phải có sự tham vấn của giới kĩ nghệ. Còn ở VN hiện nay, các đại học VN muốn xây dựng một chương trình giảng dạy cao học chẳng hạn thì phải có sự phê chuẩn của Bộ GDĐT. Nhưng giả dụ nay thì đại học đã được tự chủ nên đại học có quyền thiết kế chương trình. Tuy nhiên, ở VN vẫn chưa có các hiệp hội chuyên môn đúng nghĩa, nên họ chưa thể đóng vai trò tham vấn chuyên môn. Cho dù có hiệp hội đúng nghĩa thì cũng không thể độc lập với đảng và Nhà nước. Hoặc giới kĩ nghệ chưa có tương tác tốt với đại học thì việc tham vấn về chương trình giảng dạy chưa thể xảy ra một cách thích hợp.

Thật ra, nhiều người ở VN, kể cả trong giới quản lí đại học, nói đến tự trị đại học nhưng rất có thể họ cũng chưa hiểu thấu khái niệm này, và chưa biết được thực hành ra sao hay bao gồm những gì. Ngay cả tôi ở nước ngoài và làm việc trong hệ thống đại học ở đây trên 20 năm, đã và đang ngồi trong hội đồng faculty, mà tôi cũng không hiểu hết tự trị và tự chủ đại học cụ thể bao gồm những gì (bởi tôi đâu phải là hiệu trưởng hay ngồi trong board của đại học). Chẳng ai hiểu khái niệm và không biết nó bao gồm những gì, mà đem “tự trị” vào đại học VN là một việc làm có thể nói là nguy hiểm.

Nhưng cho dù có hiểu tự trị và tự chủ là gì và bao gồm những gì, thì những lí giải trên cho thấy không thể nào “lắp đặt” cái cơ chế đó vào các đại học Việt Nam. Lí do đơn giản là vì khác thể chế. Ở các nước tư bản theo chế độ đa đảng, nhưng đảng không có vai trò lãnh đạo tuyệt đối trong xã hội, và Nhà nước chủ trương không can thiệp sâu vào các hoạt động chuyên môn. Với chủ trương đó và theo thời gian, các nước tư bản đã xây dựng được một “critical mass” về nhân lực và một nền tảng cho các thiết chế xã hội. Và, khi một đại học hình thành, họ có đủ điều kiện để tự trị và tự chủ, mà không cần can thiệp của chính phủ. Còn ở VN, đảng lãnh đạo tuyệt đối và chi phối đến tất cả các hoạt động xã hội, kể cả giáo dục và đào tạo. Do đó, một đại học mới hình thành sẽ không thể nào có sẵn thiết chế tự trị (hay có thì cũng không đúng nghĩa), không thể nào tự chủ vì không có điều kiện và một "pool of critical mass" (hiểu nôm na là nguồn nhân lực và cơ sở vật chất) để lựa chọn. Trong một xã hội như thế thì không thể nào “lắp đặt” các thiết chế của các nước tư bản vào đại học, và dù có gượng ép cài đặt thì cũng không thể thành công. (Ở đây tôi không nói thể chế TBCN sai hay XHCN đúng, mà chỉ nói sự khác biệt để thấy cái khó khăn trong việc chuyển giao những thiết chế của TBCN sang XHCN). Nói ví von một chút là hai cỗ máy khác nhau về thiết kế, thì không thể lấy cơ phận của cỗ máy kia lắp vào cỗ máy nọ. Nói chuyện có lẽ hơi ngoài lề nhưng có liên quan: cầu thủ Lee Nguyen có thể xuất sắc ở Mĩ nhưng khi về VN anh bị cỗ máy trong nước “chặt chém” [chữ của báo chí]. Tương tự, không thể nào lấy cơ chế vận hành của đại học phương Tây áp dụng vào các đại học VN.