Hiển thị các bài đăng có nhãn việt nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn việt nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2014

40 năm trước kinh tế VN bằng Hàn Quốc?


Một bài báo trên Vietnamnet của một vị giáo sư cao tuổi viết rằng "Khoảng 40 năm trước đây kinh tế Việt Nam với Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên còn ngang hàng nhau. So với Hàn Quốc kinh tế ở miền Bắc khi đó còn nhỉnh hơn một chút. GDP bình quân đầu người ở miền Bắc là khoảng 100 USD/người, còn Hàn Quốc là khoảng 80 USD/người." (1). Không biết con số về GDP ở miền Bắc lúc đó chính xác như thế nào, nhưng cứ mỗi lần đọc những nhận xét như thế này tôi thấy phân vân vì khó tin. Tôi nghĩ 40 năm trước, Hàn Quốc đã hơn hẳn VN về kinh tế và khoa học & công nghệ.


Tôi thử kiểm tra nguồn tài liệu của World Bank (2) thì thấy rõ ràng năm 1975, Hàn Quốc có GDP cao hơn Việt Nam. Theo số liệu của World Bank World Development Indicators do nhóm Oxford Economic Forecasting phân tích, thì năm GDP của Hàn Quốc năm 1975 là 100 tỉ USD (tính theo giá trị năm 2010), cao gấp 5.5 lần so với VN (lúc đó ước tính là 18.1 tỉ USD). Thật ra, năm 1975, GDP của Thái Lan là 43.2 tỉ USD, tức đã hơn gấp 2 lần VN.

Theo tính toán của WB thì GDP đầu người năm 1975 của Hàn Quốc là 646 USD (thời giá 2010), Thái Lan là 351 USD, và VN thì mãi đến 1985 cũng chỉ 239 USD (3).

Tôi thấy mấy con số này có vẻ phù hợp với thực tế mà tôi quan sát. Năm 1981, khi đến Thái Lan, tôi đã thấy họ hơn miền Nam rất xa. Thủ đô Bangkok của họ đã hơn hẳn Sài Gòn về qui mô và trình độ phát triển. Mà, nghĩ cũng hợp lí, một đất nước bị tàn phá vì chiến tranh thì làm sao bằng một đất nước làm giàu trong thời bình, thậm chí còn nhờ chiến tranh của VN mà họ thăng tiến. Chẳng hiểu sao thời đó mình hay gọi Sài Gòn là "Hòn ngọc Viễn Đông". Có thể thời Pháp thuộc thì Sài Gòn đep như thế, nhưng thời trước 1975 thì tôi không chắc mấy. Có lẽ là một cách tự ru ngủ mình thôi.

Trước 1975, Hàn Quốc (lúc đó tụi tôi quen gọi là "Đại Hàn") từng tài trợ cho miền Nam Việt Nam. Năm 1972 họ từng xây dựng bệnh viện cho VNCH (Bệnh viện Chợ Quán). Trước đó (1969-70) Hàn Quốc đã từng xây xa lộ cho VNCH và được dùng cho đến nay. Thời đó, trình độ công nghệ cầu đường của họ đã hơn hẳn VN (không tính miền Bắc VN). Khó có thể nói 40 năm trước Hàn Quốc tương đương với VN được. Tôi nghĩ 40 năm trước Hàn Quốc đã hơn VN khá xa.

==== 


Top of Form

Bottom of Form

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014

Bức tranh lớn và bức tranh nhỏ

Tôi có quen một anh bạn trẻ, là bác sĩ và làm sếp trong một công ti dược đa quốc gia. Điều tôi quí anh là khác với các bạn trẻ khác hay chạy theo những thị hiếu tầm thường, anh là người sâu lắng, có trăn trở với thời cuộc, nói năng có suy nghĩ kĩ, và trung thành với dân tộc và đất nước. Thoạt đầu, tôi rất ngạc nhiên một người lớn lên sau 1980 mà có trăn trở như thế, nhưng sau này tôi hiểu vì em xuất thân từ một gia đình trung lưu ở Sài Gòn thời trước 1975. Có lần anh khuyên tôi: Thầy đừng nhìn VN như là một bức tranh lớn, vì bức tranh đó ảm đạm lắm, chẳng thấy tương lai đâu cả, và thầy sẽ thấy bi quan lắm; thầy cứ tập trung vào bức tranh nhỏ, chẳng hạn như giúp tụi em nè, và thầy sẽ thấy vui hơn. Câu nói này ám ảnh và đeo đuổi tôi cho đến ngày nay, và nó có khi trở thành phương châm của tôi khi làm việc liên quan đến VN.



Nếu nhìn từ xa và nhìn chung, VN quả thật là một bức tranh ảm đạm. An ninh đất nước bị đe doạ bởi các tên diều hâu phương Bắc. Biển đảo bị xâm lấn hầu như hàng ngày. Tình hình phát triển kinh tế bị trì trệ, môi trường kinh doanh không được đánh giá cao, nợ nần chồng chất và có nguy cơ vỡ nợ. Giáo dục thì là câu chuyện muôn đời không có lối ra, khi cái vòng kim cô còn treo lơ lửng trên đầu. Chất lượng đào tạo sút kém, từ bậc phổ thông đến đại học và càng lên cao chất lượng càng yếu. Y tế và chăm sóc sức khoẻ thì được xếp hạng gần chót trên thế giới, bệnh dịch lúc nào cũng trực chờ xảy ra ở qui mô lớn. Về khoa học thì hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH&CN ở Việt Nam còn mờ nhạt: hoạt động nghiên cứu KH&CN có chất lượng thấp và KH&CN chưa có những đóng góp xứng đáng cho sự phát triển đất nước. Vân vân. Nhìn đâu cũng thấy toàn là … màu xám.

Nhưng quan trọng nhất có lẽ là văn hóa, đạo đức xã hội đang suy thoái trầm trọng. Chưa khi nào tin tức về tệ nạn xã hội lại có mật độ dày đặc như hiện nay. Dường như, cái xấu và cái ác đang hoành hành ngoài xã hội và tràn lên mặt báo mỗi ngày. Kỉ cương, phép nước bị coi thường. Mê tín dị đoan lên ngôi, không chỉ ở tầng lớp đại chúng mà ngay ở cả một số cán bộ cao cấp ở các cơ quan công quyền. Những chuẩn mực về văn hóa, những giá trị phổ quát như chân-thiện-mĩ đã bị sự giả dối, cái xấu và cái ác bóp nghẹt không nhân nhượng. Chưa bao giờ, nhân phẩm của con người có thể bị xúc phạm dễ dàng và tính mạng của con người có thể bị coi rẻ như hiện nay. Suy thoái kinh tế - xã hội thì còn có thể vực dậy trong vài năm, nhưng suy đồi về văn hoá và đạo đức xã hội thì chắc cần đến vài thế hệ để khôi phục.

Với một bức tranh lớn ảm đạm như thế thì người có trăn trở không bi quan mới là chuyện lạ. Chẳng những bi quan mà còn cảm thấy bất lực, vì họ chẳng làm được gì để cải thiện tình thế. Bạn và tôi không thể làm gì cả vì không ở trong "hệ thống". Mà, dù có ở trong hệ thống thì cũng chưa chắc làm được gì. Chỉ có thể lên tiếng, nhưng có khi lên tiếng lại mang hoạ vào thân. Nói chung là chỉ biết than thở riêng tư, chứ chẳng gây được tác động gì to tát. Do đó, có nhiều người thắc mắc hỏi tôi là sao tôi viết toàn những "negative" về tình hình VN, nhưng khi làm việc gì cho VN thì tôi rất "positive", rất tích cực; có gì mâu thuẫn chăng?

Thật ra thì chẳng có gì mâu thuẫn cả. Tôi theo lời khuyên của anh bạn trẻ ở trên, tức là dù nhìn vào bức tranh lớn thì thấy ảm đạm, nhưng tôi tìm niềm vui trong những bức tranh nhỏ. Thật vậy, tôi nghĩ mỗi chúng ta cũng có thể làm những việc nhỏ để cải thiện tình thế. Nói như anh bạn tôi là nhìn vào bức tranh nhỏ và làm đẹp bức tranh đó. Nếu nhiều người cùng làm những việc nhỏ mà khả năng cá nhân cho phép, thì tập hợp những việc nhỏ đó sẽ có khả năng gây tác động lớn và tích cực hơn. Lấy ví dụ như viết sách, đó là một việc rất nhỏ. Nhưng tôi thấy mình vui khi ngồi rị mọ viết những dòng chữ hướng dẫn phân tích cái này, vẽ cái kia, vì tôi biết có nhiều bạn sẽ học được một hai điều có ích từ đó. Nếu nhiều người cùng viết ra những kinh nghiệm của mình thì tập hợp lại sẽ là một bộ sách rất có ích cho nhiều thế hệ, và thế là chất lượng giáo dục - y tế sẽ tốt hơn. Bắt đầu từ việc làm đẹp những bức tranh nhỏ thì kết quả là bức tranh lớn sẽ đẹp hơn. Hình như ai đó có nói rằng [và tôi rất đồng cảm] thay vì nguyền rủa bóng tối thì nên thấp lên một que diêm.

Thôi, cũng đành như chiếc que diêm
một lần loé lên
Thắp đời em sáng lung linh
buồn một cõi riêng
(Từ Công Phụng)

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Con voi ở trong phòng

Đọc trên danluan thấy có đăng lại những thông tin thú vị về đất nước và con người Việt Nam (1). Ở phần cuối bày, tác giả (Kỳ Duyên) đặt câu hỏi "Việt nam có đầy đủ tiềm năng nhưng tại sao tụt hậu ngày càng xa sau các nước khác?" Người phương Tây có thành ngữ "an elephant in the room" (một con voi nó đang ở trong phòng), con voi nó rất lớn, ai cũng thấy nó, nhưng chẳng ai muốn nói về nó. Thành ngữ, do đó, có nghĩa là có một vấn đề / tình huống / giải pháp / nguyên nhân rất hiển nhiên mà không ai muốn nói về nó. Tôi nghĩ câu "một con voi nó đang ở trong phòng" chính là trả lời cho câu hỏi của nhà báo Kỳ Duyên. Thôi thì cứ nói thẳng ra: "Con voi" đó chính là cái chủ nghĩa làm nền tảng thế chế mà VN đang theo đuổi.



Xin trích ra đây những con số chính về dân số và tài nguyên thiên nhiên:

(a) Dân số: 93 triệu, đứng hạng 13/243. 
(b) Diện tích: 331,210 km^2, hạng 61/189.
(c) Bờ biển: 3444 km, hạng 33/154.
(d) Rừng: 123,000 km^2, hạng 45/192.
(e) Đất canh tác: 30,000 km^2, hạng 32/236.

Còn về thành quả kinh tế - xã hội – khoa học thì sao?

(a) Giáo dục: chỉ số phát triển con người đứng hạng 121/187.
(b) Bằng sáng chế: không đáng kể, gần như 0. 
(c) Ô nhiễm môi trường: đứng hạng 102/124.
(d) Thu nhập bình quân đầu người: đứng hạng 123/182.
(e) Tham nhũng: hạng 116/177. 
(f) Phát triển xã hội: hạng 72/76.
(g) Tự do ngôn luận: 174/180.
(h) Y tế: hạng 160/190.

Với những con số về tài nguyên thiên nhiên và dân số chúng ta nghĩ rằng VN đáng lẽ phải là nước giàu có. Chả thế mà ông Lý Quang Diệu chẳng từng nói rằng VN đáng lẽ phải là một "ngôi sao" ở Á châu. Nhưng trong thực tế thì các số liệu trên cho thấy VN là một trong những nước nghèo nhất thế giới, ô nhiễm nặng nề, thiếu tính sáng tạo, tham nhũng vào hàng cao trên thế giới, và thiếu tự do ngôn luận. Có thể nói không ngoa rằng VN là một nước thất bại.

Nhưng tại sao thất bại? Tôi nghĩ ai trong chúng ta cũng có một vài câu trả lời. Trước đây, tôi thường hay nghĩ rằng sự thành bại của một quốc gia là do thời cơ, điều kiện tự nhiên, và con người. Những nước như Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore thành công vì hội đủ 3 điều kiện đó. Nhưng mới đọc cuốn “Tại sao các quốc gia thất bại” của Daron Acemoglu và James Robinson (2), trong đó tác giả chứng minh rằng thể chế có ảnh hưởng rất lớn đến thành bại của một quốc gia. Họ lí giải rằng sở dĩ các nước nghèo và lạc hậu là do thể chế chiếm đoạt về chính trị và kinh tế. Tôi nghĩ minh hoạ cho ý này sinh động nhất là trường hợp Bắc Hàn và Nam Hàn. Cũng có thể so sánh Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam trước 1975 thì rất dễ thấy "con voi trong phòng".

Đối chiếu lại ở Việt Nam, chúng ta thấy đại đa số người Việt cũng bị tước đoạt như thế. Ngay cả đất đai tưởng là của dân, nhưng thật ra là thuộc "sở hữu của toàn dân"! Các tập đoàn kinh tế chỉ tập trung vào một thiểu số có quyền thế gọi một cách mĩ miều là “nhóm lợi ích”. Đại đa số người Việt không có quyền quyết định chính trị. Do đó, theo lí giải của Acemoglu & Robinson, chúng ta có thể giải thích tại sao Việt Nam cho đến nay vẫn còn nghèo: vấn đề thể chế. Đó chính là "an elephant in the room" mà không ai -- kể cả nhà báo Kỳ Duyên -- muốn nói đến nó .

=====


(2) http://nxbtre.com.vn/tai-sao-cac-quoc-gia-that-bai.12340.49…. Ai chưa đọc cuốn này, nên tìm đọc vì rất hay. Nó giải thích tại sao những nước như VN vẫn còn nghèo và lạc hậu.

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Không thể lắp “cỗ máy” đại học nước ngoài vào VN

Tôi nghĩ những đề nghị cải cách giáo dục theo hướng các nước “tiên tiến” sẽ không bao giờ thành công ở VN. Xin nói rõ “tiên tiến” ở đây là các nước Âu Mĩ hay các nước theo thể chế và hệ thống Âu Mĩ, nói thẳng ra là các nước theo tư bản chủ nghĩa (TBCN). Vì thể chế VN căn bản vẫn là XHCN, nên không thể nào lắp đặt bộ máy của TBCN vào XHCN được. Chính sự khác biệt căn bản này có thể giải thích cho rất nhiều bất cập hiện nay ở VN.


Thử nhìn cái vỏ tắc ráng ở miền Tây. Nó được thiết kế chở khoảng 4-5 người hoặc ít hơn, dài độ 5 thước, bề ngang khoảng là 1.5 m. Vỏ tắc ráng có máy đuôi tôm như máy BS9 hay BS10. Thử tưởng tượng, chúng ta đem đầu máy xe hơi như Toyota gắn vào vỏ tắc ráng thì chuyện gì sẽ xảy ra. Thứ nhất là họ gây ô nhiễm môi trường, rất ồn ào, tiếng máy lớn đến nỗi đinh tai nhức óc cư dân hai bên bờ sông. Nó chạy rất nhanh, nhưng đồng thời gây sóng lớn, và làm chìm xuồng và gây thiệt hại cho những người bơi xuồng. Về thẩm mĩ, cái đầu máy bự “tổ chảng” trong khi cái vỏ thì chỉ nhỏ thó, nhìn rất dị hợm, chẳng giống ai. Nói tóm lại, gắn cái đầu máy xe hơi vào vỏ tắc ráng chẳng những làm cho hình ảnh cái vỏ bị méo mó, mà còn gây tác hại đến môi trường và người dân. Điều này chắc không khó hiểu, vì cái động cơ đó được thiết kế cho xe hơi trên đường bộ, chứ đâu được thiết kế cho vỏ tắc ráng trên sông.

Vỏ tắc ráng ở miền Tây sông nước 


Dùng hình tượng trên, tôi nghĩ việc áp đặt hay áp dụng các cơ chế về giáo dục ở các nước TBCN vào Việt Nam XHCN sẽ khó thành công. Trước hết, có thể lấy việc tự trị đại học làm ví dụ để hiểu vấn đề. Ở nước TBCN như Úc chẳng hạn, mỗi đại học ra đời là có một đạo luật riêng cho đại học đó, và đạo luật dĩ nhiên là do Quốc hội thông qua (rất khác với VN, đại học thường do Bộ GDĐT phê chuẩn). Trong đạo luật không có ghi rõ về autonomy (mà thường hay được dịch sang tiếng Việt là “tự trị”), nhưng trong thực tế, không chỉ là tự trị mà còn tự chủ. Tôi có thể lấy ví dụ như sau:

• Đại học tự trị bởi có một cái board (có nơi gọi là council), và thành viên trong board là hiệu trưởng đại học VÀ các nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng được chọn hàng năm. Các nhân vật này có thể là cựu chánh án, CEO của các tập đoàn nổi tiếng, giám mục, nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội, thậm chí có cả cựu chính trị gia. Nói chung, họ thật sự là “khuôn mặt” của cộng đồng. Một số thành viên là do Bộ trưởng Giáo dục bổ nhiệm, một số thì do bầu cử, một số do chỉ định. Thời gian phục vụ trong board cũng có giới hạn chứ không vô hạn định.

• Đại học tự chủ về mặt tài chính, hoạt động đào tạo và nghiên cứu, và nhân sự. Trường chịu trách nhiệm về thu chi tài chính trước board của đại học. Trường hoạch định chương trình giảng dạy và đào tạo, nhưng có tham khảo với các hiệp hội chuyên môn. Nghiên cứu khoa học do mỗi nhà khoa học tự định hướng. Trường bổ nhiệm và đề bạt nhân sự khoa bảng. Tất cả các hoạt động trên đều không có sự can thiệp của chính phủ.

Giả dụ như đại học VN được cho quyền tự trị và tự chủ, hiểu theo nghĩa Bộ Giáo dục & Đào tạo không điều khiển và không can thiệp vào chương trình đào tạo, tuyển sinh, và tuyển dụng / đề bạt nhân sự. Đó có lẽ là những gì nhiều người đang lớn tiếng đòi. Nhưng vấn đề là sau đó thì họ sẽ làm gì? Thử tưởng tượng nếu họ đem cái thiết chế của nước ngoài (mà tôi vừa mô tả) “lắp” vào một đại học ở VN mới được trao quyền tự trị và tự chủ, chuyện gì sẽ xảy ra.

Ở VN tất cả đều chịu sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Đại học cũng chịu sự lãnh đạo của đảng cộng sản, và chi bộ là một thể hiện sự lãnh đạo đó. Mấy năm gần đây, đại học cũng có hội đồng quản trị, trên danh nghĩa giống như board ở đại học nước ngoài, nhưng thực chất thì không. Làm sao hội đồng quản trị có sự đại diện của các tổ chức cộng đồng thực sự, khi mà tất cả các tổ chức cộng đồng đều chịu sự lãnh đạo của đảng. Cho dù có tổ chức tôn giáo hay tổ chức dân sự độc lập với đảng, nhưng đảng và Nhà nước không công nhận, thì họ sẽ không bao giờ có đại diện trong board của đại học. Hay như thành viên là chánh án, nhưng chánh án ở VN thì lại không độc lập với Nhà nước và thường là đảng viên. Do đó, trong cái hệ thống thể chế hiện nay, đại học VN sẽ KHÔNG BAO GIỜ có một board / council như các đại học phương Tây.

Bây giờ thử bàn về tự chủ. Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của tự chủ là bổ nhiệm các chức vụ điều hành đại học và giáo sư. Ở các đại học nước ngoài, như tôi nói, các đại học toàn quyền bổ nhiệm và đề bạt giáo sư. Người kí giấy bổ nhiệm tôi là hiệu trưởng, và qui trình đánh giá và bổ nhiệm tôi là việc của một hội đồng khoa bảng của trường. Ở trường UNSW, việc bổ nhiệm hiệu trưởng là do board đảm nhận. Thường, họ lập một “uỷ ban tìm hiệu trưởng”, họ quảng cáo khắp thế giới và trên các tập san khoa học quốc tế. Uỷ ban đó có nhiệm vụ xem xét và đánh giá đơn của ứng viên, đến khi có danh sách các ứng viên có tiềm năng cao, uỷ ban trình lên board, và phỏng vấn sẽ được thực hiện. Ứng viên tốt nhất sẽ được board bổ nhiệm – tức kí hợp đồng 5 năm. Quyết định bổ nhiệm hiệu trưởng hay giáo sư không có can thiệp của Chính phủ. Một qui trình như thế tốn khoảng 1-2 năm.

Nhưng một qui trình tự chủ như thế không thể thực hiện ở VN trong điều kiện hiện nay. Theo qui định, hiệu trưởng phải là đảng viên (ngay cả đại học tư thục, hiệu trưởng vẫn phải là đảng viên), nên việc tìm hiệu trưởng nước ngoài là điều không thể. Còn ở trong nước thì phải theo qui trình ở trong nước: đó là “qui hoạch” cán bộ. Mà, qui hoạch thì phải chịu sự chi phối của đảng và Nhà nước. Còn việc bổ nhiệm hay tuyển dụng giáo sư cũng không thể làm theo nước ngoài. Thứ nhất, VN chưa có đủ số giáo sư có khả năng giảng dạy và nghiên cứu để trường đại học có thể quảng cáo. Nếu quảng cáo tìm giáo sư nước ngoài thì các đại học VN không có tiền để trả lương, và ngay cả có tiền trả lương thì các giáo sư nước ngoài có thể sẽ không đến VN vì đại học VN chưa có cái prestige để thu hút họ. (Ít ai dám hi sinh sự nghiệp đang lên cho một nơi mình chưa biết tương lai ra sao). Thứ hai, cho dù không có sự can thiệp của Bộ GDĐT (vì đã tự chủ) nhưng vẫn có sự can thiệp của đảng, bởi vì chi bộ đảng vẫn còn ở trường và họ phải có tiếng nói. Do đó, các đại học VN không thể tự chủ trong vấn đề tuyển dụng nhân sự ở đại học như các đại học phương Tây.

Có thể lấy chương trình đào tạo ra làm một minh hoạ khác. Ở các đại học nước ngoài, một chương trình đào tạo được thiết kế có sự tham vấn của các hiệp hội chuyên môn (các hiệp hội này độc lập với Nhà nước). Lí do đơn giản là trường đại học đào tạo sinh viên để đáp ứng nhu cầu của kĩ nghệ, nên các course học chuyên môn mang tính ứng dụng cao cần phải có sự tham vấn của giới kĩ nghệ. Còn ở VN hiện nay, các đại học VN muốn xây dựng một chương trình giảng dạy cao học chẳng hạn thì phải có sự phê chuẩn của Bộ GDĐT. Nhưng giả dụ nay thì đại học đã được tự chủ nên đại học có quyền thiết kế chương trình. Tuy nhiên, ở VN vẫn chưa có các hiệp hội chuyên môn đúng nghĩa, nên họ chưa thể đóng vai trò tham vấn chuyên môn. Cho dù có hiệp hội đúng nghĩa thì cũng không thể độc lập với đảng và Nhà nước. Hoặc giới kĩ nghệ chưa có tương tác tốt với đại học thì việc tham vấn về chương trình giảng dạy chưa thể xảy ra một cách thích hợp.

Thật ra, nhiều người ở VN, kể cả trong giới quản lí đại học, nói đến tự trị đại học nhưng rất có thể họ cũng chưa hiểu thấu khái niệm này, và chưa biết được thực hành ra sao hay bao gồm những gì. Ngay cả tôi ở nước ngoài và làm việc trong hệ thống đại học ở đây trên 20 năm, đã và đang ngồi trong hội đồng faculty, mà tôi cũng không hiểu hết tự trị và tự chủ đại học cụ thể bao gồm những gì (bởi tôi đâu phải là hiệu trưởng hay ngồi trong board của đại học). Chẳng ai hiểu khái niệm và không biết nó bao gồm những gì, mà đem “tự trị” vào đại học VN là một việc làm có thể nói là nguy hiểm.

Nhưng cho dù có hiểu tự trị và tự chủ là gì và bao gồm những gì, thì những lí giải trên cho thấy không thể nào “lắp đặt” cái cơ chế đó vào các đại học Việt Nam. Lí do đơn giản là vì khác thể chế. Ở các nước tư bản theo chế độ đa đảng, nhưng đảng không có vai trò lãnh đạo tuyệt đối trong xã hội, và Nhà nước chủ trương không can thiệp sâu vào các hoạt động chuyên môn. Với chủ trương đó và theo thời gian, các nước tư bản đã xây dựng được một “critical mass” về nhân lực và một nền tảng cho các thiết chế xã hội. Và, khi một đại học hình thành, họ có đủ điều kiện để tự trị và tự chủ, mà không cần can thiệp của chính phủ. Còn ở VN, đảng lãnh đạo tuyệt đối và chi phối đến tất cả các hoạt động xã hội, kể cả giáo dục và đào tạo. Do đó, một đại học mới hình thành sẽ không thể nào có sẵn thiết chế tự trị (hay có thì cũng không đúng nghĩa), không thể nào tự chủ vì không có điều kiện và một "pool of critical mass" (hiểu nôm na là nguồn nhân lực và cơ sở vật chất) để lựa chọn. Trong một xã hội như thế thì không thể nào “lắp đặt” các thiết chế của các nước tư bản vào đại học, và dù có gượng ép cài đặt thì cũng không thể thành công. (Ở đây tôi không nói thể chế TBCN sai hay XHCN đúng, mà chỉ nói sự khác biệt để thấy cái khó khăn trong việc chuyển giao những thiết chế của TBCN sang XHCN). Nói ví von một chút là hai cỗ máy khác nhau về thiết kế, thì không thể lấy cơ phận của cỗ máy kia lắp vào cỗ máy nọ. Nói chuyện có lẽ hơi ngoài lề nhưng có liên quan: cầu thủ Lee Nguyen có thể xuất sắc ở Mĩ nhưng khi về VN anh bị cỗ máy trong nước “chặt chém” [chữ của báo chí]. Tương tự, không thể nào lấy cơ chế vận hành của đại học phương Tây áp dụng vào các đại học VN.