Hiển thị các bài đăng có nhãn đại học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đại học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

Nghe viễn kiến của tân hiệu trưởng UNSW Australia

Hôm qua, trong chương trình seminar của Viện Garvan, tôi say sưa nghe những viễn kiến của tân hiệu trưởng Đại học New South Wales (nay đã đổi tên mới là "UNSW Australia"). Ông là Giáo sư Ian Jacobs, một giáo sư y khoa từ Anh, chuyên ngành sản phụ khoa. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử UNSW có một giáo sư y khoa được bổ nhiệm làm hiệu trưởng. Ông không chỉ là một nhà khoa học có tiếng trên thế giới, mà còn tỏ ra là một nhà lãnh đạo có viễn kiến tốt, và muốn biến UNSW thành một trong những đại học hàng đầu trên thế giới.


Qua bài nói chuyện của ông, tôi mới biết là UNSW hiện đang có 52,000 sinh viên. Điều làm tôi ngạc nhiên là UNSW có đến 25% sinh viên nước ngoài (tức 13,000). Với con số này, UNSW Australia là trường đại học có số sinh viên ngoại quốc lớn thứ 2 trên thế giới. Tất cả những con số đó chỉ nói lên rằng UNSW Australia là một trong những đại học lớn nhất trên thế giới. Năm 2014, UNSW đứng hạng 48 trong các đại học hàng đầu trên thế giới (theo danh sách QS). Với cái vốn đó, làm gì để đưa UNSW cao hơn nữa trên trường quốc tế? Đó là một thách thức lớn của tân hiệu trưởng.

Dù chỉ mới nhậm chức có 4 tháng mà ông đã tiếp kiến hàng ngàn nhân viên, giảng viên và giáo sư của UNSW và các viện liên quan. Kết quả của những tiếp kiến đó là một Green Paper, vạch ra chiến lược cho UNSW trong 10 năm tới (2015 - 2025). Đây là một chiến lược rất ư là tham vọng. Chiến lược tập trung vào 3 ưu tiên chính là xuất sắc trong học thuật, dấn thân xã hội, và tác động toàn cầu. Một trong những mục tiêu quan trọng là UNSW muốn có 2 giải Nobel trong tương lai. Cho đến nay, UNSW chưa có ai đoạt giải Nobel.

Ông nói về một ý tưởng mà ông gọi là "personalized education" mà tôi thấy rất thú vị. Đằng sau của ý tưởng này là sử dụng công nghệ thông tin để đem học thuật đến mọi người. Không phải là MOOC hay gì đó, mà là một chiến lược lớn hơn và rộng hơn. Dĩ nhiên, ông đặt trọng tâm vào nghiên cứu khoa học, và quyết tâm đầu tư thêm vào lĩnh vực này. Trường sẽ đầu tư thêm 4 tỉ đôla trong vòng 10 năm, và sẽ chú trọng hơn nữa đến nghiên cứu khoa học. Hiện nay, ngân sách của UNSW mỗi năm là 2 tỉ đôla. Là hiệu trưởng, nên ông cũng rất quan tâm đến bảng xếp hạng toàn cầu. Mục tiêu của ông là nâng UNSW thành "top 20" trên thế giới, chứ không phải "top 100" như hiện nay.

Tôi nghĩ khách quan mà nói, đây là một tham vọng (có giải Nobel) khó thành hiện thực. Hiện nay, nghiên cứu khoa học của UNSW vẫn còn thấp hơn các đại học như Sydney, Melbourne, và hình như thấp hơn cả Univ Queensland. Nhưng so với các đại học mới nổi ở Á châu như ĐHQG Singapore (NUS), ĐHQG Seoul thì UNSW vẫn phải phấn đấu nhiều hơn về chất lượng. Nếu tính theo "Nature Index", UNSW và tất cả các đại học hàng đầu của Úc đều thua các đại học Á châu vừa kể (1). Chẳng hạn như năm 2013 NUS có 486 bài trên các tập san IF cao (tức tương đương với ĐH Sydney), nhưng chỉ số WFC của NUS là 206.1, cao hơn 2 lần so với Sydney (91.6). Điều này cho thấy các đại học quốc gia ở Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan có "nội lực" cao hơn đại học Úc. Tôi thấy hình như ông chưa biết con số này, và tôi chưa có dịp đề cập phân tích này cho ông hiệu trưởng biết.

Tôi nghĩ để thực hiện tham vọng này, ông tân hiệu trưởng chắc sẽ phải bận rộn hô hào các giáo sư dưới trướng. Không chỉ hô hào mà đích thân ông cũng phải làm gương. Khác với hiệu trưởng trước vốn là một doanh nhân (businessman), Gs Jacobs là một nhà khoa học thành danh, nên ông có tư cách để nói về viễn kiến học thuật. Như nói trên, ông là một giáo sư y khoa, chuyên ngành sản phụ khoa. Lĩnh vực nghiên cứu của ông là truy tầm ung thư buồng trứng. Ông đang chủ trì một công trình nghiên cứu gồm 200 ngàn phụ nữ, với ngân sách 25 triệu bảng Anh. Khi mới vào giảng seminar, ông nói đùa rằng ông là người không khách quan, vì ông bỏ ra gần như 80% sự nghiệp làm về ... buồng trứng!

Ông không phải chỉ là một nhà lãnh đạo đại học, mà còn là một nhà khoa học có tên tuổi trên trường quốc tế. Tính đến nay, ông đã công bố hơn 200 bài báo khoa học, và có hơn 17 ngàn trích dẫn, với chỉ số H là 66. Với chỉ số H đó, ông đứng vào hạng top 0.1% trên thế giới. Một điều vui vui là khi giới thiệu khách mời, ông viện trưởng Garvan có nói [lầm] rằng Gs Ian Jacobs có trên 15 ngàn bài báo khoa học, làm cả hội trường sửng sốt. Thế là khi lên podium, ông phải đính chính là trên 15000 trích dẫn, chứ không phải 15000 bài báo. Các bạn có thể tham khảo trang Google Scholar (2) để biết qua những công trình của ông tân hiệu trưởng UNSW Australia.

Về mặt cá nhân, ông không ngần ngại tuyên bố ông là một fan cuồng của câu lạc bộ bóng đá Arsenal. Ông hỏi trong hội trường có ai là fan của Arsenal, thì chỉ có vài người dơ tay, làm ông ồ lên ... thất vọng.

Trong lúc trả lời các câu hỏi, ông tân hiệu trưởng tiết lộ một thông tin nhỏ nhưng rất thú vị về mối liên hệ với Đại học Sydney. Ông cho biết là cách đây 2 tuần, ông và ban giám hiệu đã có một buổi ăn tối với ban giám hiệu Đại học Sydney. Đây là buổi giao lưu lịch sử, vì từ ngày thành lập Đại học New South Wales đến hôm đó, chưa bao giờ lãnh đạo hai trường nhìn nhau bằng mắt! Thật ra, chẳng có thù oán gì cả. Tất cả chỉ là cảm nhận cạnh tranh mà thôi. Đại học Sydney là đại học lâu đời nhất, uy danh cao nhất của Úc, nhưng lại là láng giềng của Đại học New South Wales, một đại học đang vươn lên rất nhanh. Có lẽ sự vươn lên của UNSW làm cho Sydney thấy ... nhột và khó chịu. Nhưng qua buổi ăn tối đó, hi vọng hai trường sẽ không còn nghi kị nhau nữa.

Nghe qua bài nói chuyện, phân nửa là về viễn kiến và phân nửa là về công trình nghiên cứu của ông, tôi không thể không so sánh với các đại học VN. Dĩ nhiên, tôi không thể so sánh một đại học giàu có với ngân sách hàng tỉ USD với một đại học bên nhà được, nhưng tôi muốn nói đến viễn kiến (vision). Rất khó tìm một lãnh đạo đại học VN có những viễn kiến làm cho chúng ta quan tâm và hào hứng. Nhìn qua viễn kiến của một đại học hàng đầu của VN, người ta chỉ mơ đến sứ mệnh "được quản trị, điều hành, quản lý theo mô hình hệ thống đại học mẫu mực với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao trước xã hội đồng thời tự kiểm soát và xây dựng môi trường sáng tạo khoa học, tự do học thuật trong khu đô thị đại học kiểu mẫu." Thật khó nói đó là cái nhìn cao xa.

Vấn đề của các hiệu trưởng bên nhà là một phần họ quá bận rộn với những vấn đề chính trị địa phương và giữ cái ghế cùng với tư duy nhiệm kì, nên chẳng có thì giờ đâu mà đầu tư cho những suy nghĩ cao xa. Ngoài ra, phần lớn họ không có cơ hội làm nghiên cứu khoa học ở đẳng cấp quốc tế, nên rất khó có cái nhìn chuyên sâu. Thêm vào đó là bên nhà, các lãnh đạo đại học được bổ nhiệm theo qui trình "qui hoạch" cán bộ; còn bên này, họ "truy tìm" nhân tài khắp thế giới để bổ nhiệm. Những khác biệt đó, theo tôi, giải thích tại sao hiệu trưởng đại học ở ngoài này có viễn kiến rất khác so với đồng nghiệp của họ ở Việt Nam.

===

(1) http://tuanvannguyen.blogspot.com.au/2014/12/cong-bo-quoc-te-tren-cac-tap-san-danh.html

(2) https://scholar.google.com.au/citations?user=INZvL8oAAAAJ&hl=en

Thứ Hai, 25 tháng 8, 2014

Giáo sư đem lại danh tiếng cho trường đại học?

Có người cho rằng không có giáo X kia thì ai biết đến đại học Y. Nói cách khác, họ cho rằng sự danh tiếng [nếu có] của đại học Y là nhờ vào danh tiếng [nếu có] của giáo sư X. Tất nhiên, chúng ta chỉ nói đại học ở VN (vì đại học nổi tiếng ở nước ngoài thì là một câu chuyện khác). Tôi nghĩ quan điểm “nhờ X thì Y mới nổi tiếng” là một sai lầm, nếu không muốn nói là ảo tưởng. 


Chúng ta phải hiểu “nổi tiếng” ở đây là có tiếng tốt, chứ không phải tiếng xấu. Tiếng tốt rất khó định lượng cho chính xác. Trường thì có tiếng về ngành kinh tế, nhưng kém với khoa học; trường thì vang danh về y khoa; lại có trường nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực. Có trường sinh viên ra tìm việc làm dễ và nhanh, có trường tốt về cơ sở vật chất, lại có trường giỏi về nghiên cứu khoa học. Làm sao cân đo đong đếm các khía cạnh đó là một vấn đề nan giải. Người ta thường dựa vào các bảng xếp hạng đại học trên thế giới để đánh giá cái gọi là “nổi tiếng”. Có tên trong các bảng xếp hạng “Top 500” có thể xem là nổi tiếng. Chắc chắn không chính xác 100%, nhưng đại khái các bảng xếp hạng cũng phản ảnh khá đúng với cảm nhận của công chúng. Ví dụ như nói Mahidol University, ai cũng biết là ở Thái Lan và nổi tiếng; nói đến Stanford, ai cũng biết trường này ở Mĩ và nổi tiếng. Bảng xếp hạng do đó có thể xem là một dấu ấn gián tiếp (surrogate marker) của nổi tiếng.

Không có đại học nào của VN là có tiếng trên trường quốc tế. Thật vậy, cho đến nay chẳng có bất cứ một đại học nào của VN nằm trong bảng xếp hạng danh tiếng của QS, THE, AWRU. Điều này dễ hiểu, bởi vì các đại học VN còn rất lu mờ trong nghiên cứu khoa học. Chẳng ai biết và cũng chẳng ai quan tâm đến đại học VN vì họ chẳng có đóng góp gì đáng chú ý cho khoa học và cho cộng đồng quốc tế. Ngay cả các đại học lớn trong vùng cũng chẳng xem các đại học VN ra gì, vì khoảng cách về nghiên cứu giữa họ và các đại học hàng đầu ở VN quá xa và càng xa theo thời gian.

VN cũng chưa có một giáo sư hay một nhà khoa học nào đứng vào hàng các nhà khoa học “eminent” (lừng danh) trên thế giới. Dĩ nhiên, VN có vài nhà khoa học có tiếng trên thế giới trong chuyên ngành của họ, nhưng ngay cả trong chuyên ngành, cái “có tiếng” đó cũng chỉ là hạng trung bình hay trên trung bình một chút. Theo tôi biết, VN chưa có một nhà khoa học được mời diễn thuyết trong phiên họp khoáng đại của các hội nghị số 1 trong chuyên ngành. Điều này có lẽ không khó hiểu, vì VN cũng chỉ mới hội nhập quốc tế trong thời gian gần đây, và nghiên cứu khoa học cũng chỉ mới được quan tâm khi có người chỉ ra sự tụt hậu của VN trên trường quốc tế.

Sự nổi tiếng của đại học VN, do đó, không phụ thuộc vào giáo sư ở VN. Nói đúng ra, như nói trên không có một đại học VN nào nổi tiếng trên thế giới, và giáo sư cũng chưa nổi tiếng trên thế giới, thì tích số của hai yếu tố phải là số không.

Ở nước ngoài, có một số giáo sư Việt kiều nổi tiếng thật sự trong chuyên ngành của họ, nổi tiếng theo tiêu chí mà tôi mới đề cập ở trên. Nhưng tôi nói “một số”, chứ không nhiều như báo chí VN hay ảo tưởng. Bên cạnh một số giáo sư nổi tiếng đó, còn có vài giáo sư khác tuy không nổi tiếng nhưng họ có khả năng PR rất tốt trên báo chí VN và tự dưng họ trở thành nổi tiếng. Họ cũng là giáo sư ở nước ngoài, có thể từ các trường đại học danh tiếng nhưng phần lớn là xuất phát từ các trường làng nhàng. Họ có ý nguyện giúp VN, và khi về VN so với đồng nghiệp trong nước họ thấy mình cao hẳn lên. Từ đó họ ảo tưởng rằng mình là số 1 trên thế giới! Số này không nhiều, nhưng báo chí tung ca nhiều quá nên công chúng tưởng là nhiều.

Các trường đại học VN rất muốn nâng cao “thương hiệu” của họ trên trường quốc tế, và cũng là cách góp phần đưa tên tuổi VN trong trường khoa học. Do đó, họ rất cần nghiên cứu khoa học, lĩnh vực mà họ yếu nhất. Từ đó, họ cần sự giúp đỡ và hợp tác của các giáo sư nước ngoài, kể cả giáo sư Việt kiều. Một số ít giáo sư Việt kiều có tâm về hẳn VN để làm việc, và họ thường âm thầm. Nhưng số nhiều giáo sư Việt kiều thì chỉ như “đi mây về gió”, lâu lâu nói chuyện trong seminar, ghé thăm như “cưỡi ngựa xem hoa” chứ chẳng giúp gì nhiều. Do đó, có trường theo mô hình “nhóm nghiên cứu” (research group) để giúp các giáo sư Việt kiều có lab và có cơ sở để hợp tác lâu dài cho dù là ở nước ngoài.

Thế giáo sư Việt kiều có làm cho đại học VN nổi tiếng? Tôi nghĩ câu trả lời là KHÔNG. Một cây làm chẳng nên non. Cho dù một trường đại học có thể thu hút giáo sư Việt kiều nổi tiếng lừng danh hay nổi tiếng, thì sự hiện diện của giáo sư đó vẫn không thể giúp các đại học VN nổi tiếng được. Trường có tiếng về một lĩnh vực vẫn chưa thể nói là nổi tiếng được. Nổi tiếng đòi hỏi sự đồng bộ của nhiều lĩnh vực.

Nói đến nổi tiếng theo cái nhìn của công chúng trong nước chắc người ta nghĩ đến ĐHQGHN và ĐHQGHCM. Nhưng nếu hỏi họ 2 đại học đó nổi tiếng về cái gì, thì có thể phần lớn chẳng ai trả lời được. Không trả lời được là vì cả hai trường chẳng có công trình khoa học gì để gọi là “nổi bậc”. Có thể nói tất cả các đại học VN đều như thế, trường nào cũng như trường nào về tiếng tăm trong khoa học, chưa có trường nào có công trình gọi là “flagship” để công chúng nhận ra dễ dàng.

Do đó, tôi nghĩ sự có mặt của các giáo sư Việt kiều, cho dù là giáo sư danh tiếng, ở các đại học VN sẽ khó làm cho đại học nổi tiếng. Suy nghĩ kiểu “không có giáo sư X chắc chẳng ai biết đến trường Y” theo tôi là cực kì trẻ con đến bất ngờ. Tôi nghĩ các giáo sư Việt kiều chân chính không ai ảo tưởng rằng sự có mặt của họ sẽ làm đại học nổi tiếng; họ chỉ nghĩ góp một tay vào việc xây dựng thương hiệu cho đại học qua nghiên cứu khoa học và giảng dạy.

Phần lớn tiến sĩ ở nước ngoài làm trong đại học?

Nhiều người ở VN nghĩ rằng phần lớn tiến sĩ ở các nước phương Tây làm trong đại học. Ông Phạm Vũ Luận cũng nghĩ thế khi ông nói “Ở Mỹ, tiến sĩ chỉ làm việc trong các viện nghiên cứu, trường học. Còn ở Việt Nam, đang có xu hướng phổ cập tiến sĩ, thạc sĩ” (1). Nhưng tôi nghĩ thực tế không phải vậy. 


Ở các nước tiên tiến đang có một sự khủng hoảng đào tạo tiến sĩ. Đào tạo nhiều quá, nhưng không có việc làm và tương lai cho họ. Trong thời gian 2005-2009, chỉ Mĩ “sản xuất” ra hơn 100,000 tiến sĩ (chiếm 12% tổng số tiến sĩ trên thế giới), nhưng trong cùng thời gian đó, đại học Mĩ chỉ có 16,000 vị trí giáo sư. Ở Canada, năm 2007 sản suất ra 4000 tiến sĩ, nhưng đại học chỉ có 2616 vị trí trống cấp giáo sư.

Do đó, phần lớn tiến sĩ phải lây lất làm postdoc (hậu tiến sĩ), thất nghiệp, hay bỏ thế giới khoa học. Thật vậy, một cuộc điều tra ở Mĩ cách đây không lâu cho thấy gần 55% tiến sĩ làm trong các công ti kĩ nghệ; trong số này khoảng 30% làm nghiên cứu, phần còn lại làm về quản lí và việc khác không cần trình độ tiến sĩ.

Do đó, đừng nghĩ rằng đa số tiến sĩ ở Mĩ làm trong đại học hay viện nghiên cứu. Con đường từ tiến sĩ đến vị trí postdoc đã gian nan, nhưng từ postdoc đến vị trí giáo sư ngạch 1 (assistant professor) càng gian nan hơn (2). Điều này dẫn đến con đường khác cho tiến sĩ là làm việc trong kĩ nghệ. Thật ra, làm việc cho các tập đoàn lớn còn có nhiều bổng lộc hơn và có khi hào hứng hơn là làm việc cho đại học.

---

(1) http://tuoitre.vn/Giao-duc/623929/​nhon-nhao-nhu-dao-tao-tien-si.html


(2) Ở Mĩ có 3 ngạch giáo sư: assistant professor, associate professor, và full professor. 

Thứ Năm, 17 tháng 10, 2013

Tinh thần đại học

Xin hân hạnh giới thiệu một cuộc trò chuyện giữa tôi và phóng viên báo Sinh viên Việt Nam (SVVN) về chủ đề “tinh thần đại học”. Bài này cũng lâu rồi, nhưng nay lấy ra để chia sẻ cùng các bạn quan tâm. Chủ đề xoay quanh ý tưởng tự do học thuật (academic freedom).


Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố dự thảo (sửa đổi) Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Khi bàn đến đề án này, nhiều người xét đến tính tự trị của đại học và tinh thần tự do học thuật của các “thành lũy khoa học”. SVVN có cuộc trò chuyện với GS Nguyễn Văn Tuấn:

SVVN: Thưa ông, theo ông, điều gì làm nên linh hồn và là động lực sáng tạo tri thức của một trường đại học?

NVT: Có nhiều yếu tố liên quan đến sáng tạo, và các chuyên gia xã hội học chia thành hai nhóm yếu tố: nhóm mang tính tổ chức và môi trường, và nhóm mang tính cá nhân. Một môi trường cởi mở với những ý tưởng mới và năng động trong tương tác giữa các nhà khoa học luôn là nơi sáng tạo cao nhất. Ngoài ra, nhà khoa học cần phải được đảm bảo quyền tự do lựa chọn và theo đuổi chủ đề nghiên cứu mà không bị can thiệp hay làm phiền bởi các lực cản hành chính và chính trị. Nói cách khác, đó chính là yếu tố mà giới khoa bảng quen gọi là tự do học thuật. Ngày nay, dù đây đó vẫn còn tranh cãi về phạm vi, nhưng tự do học thuật được xem là giá trị cốt lõi của các đại học tiên tiến, là một trong những thước đo về tiến bộ của một xã hội. 

Để giữ được cái hồn cốt và đảm bảo chất lượng của một đại học, thì nhân tố quyết định là phải làm gì, thưa ông?

NVT:  Đã có nhiều nghiên cứu về câu hỏi này, mà tôi nghĩ rất khó nói một cách đầy đủ trong một bài phỏng vấn, nhưng tôi có thể tóm tắt trong 6 yếu tố chính (không theo thứ tự quan trọng) như sau:

·        Trình độ và uy danh của giảng viên và giáo sư;
·        Hệ thống thư viện;
·        Nghiên cứu khoa học;
·        Chương trình giảng dạy;
·        Hệ thống hành chính tinh giản; và
·        Cơ sở vật chất.

Chú ý là cả 6 yếu tố đều liên quan đến sự tự chủ và tự do học thuật. Chẳng hạn như một đại học tự chủ sẽ có điều kiện tuyển chọn giảng viên, quyết định mức lương theo thị trường. Tự do học thuật cho phép giảng viên và giáo sư có tự do để thiết kế chương trình giảng dạy và tự do theo đuổi nghiên cứu những đề tài mà họ nghĩ sẽ nâng cao tầm ảnh hưởng của đại học.

SVVN: Dưới góc nhìn của mình, ông giải thích thế nào về việc chất lượng các đại học của ta hiện nay chỉ “nhàng nhàng”?

NVT: Tôi nghĩ có thể giải thích tại sao chất lượng của các đại học Việt Nam (nói chung) còn thấp qua 5 yếu tố trên. Chúng ta biết rằng hiện nay chỉ có khoảng 14% trong số 61672 giảng viên đại học có bằng tiến sĩ, và con số giáo sư/phó giáo sư cũng chỉ chiếm khoảng 5%. Dĩ nhiên, không phải có nhiều giảng viên bằng tiến sĩ hay có nhiều giáo sư là nghiễm nhiên có “chất lượng” cao, nhưng xu hướng chung trên thế giới thì tỉ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ được xem là một trong những chỉ tiêu quan trọng về chất lượng giáo dục.

Nói đến thư viện trong các đại học Việt Nam, tôi nghĩ đó là một “câu chuyện buồn”. Có thể nói rằng chưa có một đại học lớn nào ở VN (tôi chưa nói đến các đại học mới) có thư viện đúng chuẩn mực quốc tế. Thiếu thốn rất nhiều, thiếu sách vở cập nhật, thiếu các tập san khoa học quan trọng, và nhất là hệ thống kết nối internet thì quá nghèo nàn. Thư viện là “bộ mặt” của đại học, nhưng bộ mặt của các đại học Việt Nam thì phải nói là chưa được đẹp mấy. Tôi từng ghé qua một vài đại học của Thái Lan, và thấy trường nào cũng cp1 i một hệ thống thư viện tuyệt vời, và hệ thống internet được trải đều khắp đô thị đại học. Một hệ thống như thế chỉ là giấc mơ ở Việt Nam.

Thêm vào đó là chương trình giảng dạy còn lạc hậu, thiếu cập nhật hóa. Có những chương trình giảng dạy có từ thời bao cấp Liên Xô mà vẫn còn sử dụng!  Sinh viên tiêu ra khá nhiều thời gian để học những môn học chính trị và triết học chẳng liên quan gì đến chương trình chính. Phần lớn các giảng viên và giáo sư không nghiên cứu khoa học và rất ít người có những công trình công bố quốc tế. Vì thiếu nghiên cứu khoa học nên bài giảng của họ cũng có rất nhiều hạn chế. Một số bài giảng thật ra là dịch từ sách nước ngoài, nhưng chất lượng dịch cũng chưa đạt.

Hệ thống hành chính ở phần lớn đại học Việt Nam chỉ có thể mô tả bằng hai chữ: kinh dị. Hành chính đáng lẽ phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu, nhưng ở Việt Nam, nó lại có chức năng “hành là chính”. Với một hệ thống hành chính nặng nề, bao cấp, máy móc như hiện nay, chúng ta khó mà hi vọng hệ thống đó sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục đại học.

Cơ sở vật chất của các đại học VN còn rất kém. Đây là “di sản” của nhiều năm chưa được quan tâm đúng mức. Có thể đến một vài đại học lớn để thấy các phòng labô cũ kĩ, trang thiết bị cũng nghèo nàn. Có nhiều chương trình thực nghiệm mà sinh viên phải “học chay”.

Nói tóm lại, trong 6 yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng đại học thì các đại học Việt Nam đều ở vị thế rất bất lợi. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy các đại học Việt Nam sẽ còn rất lâu mới có tên trong các bẳng xếp hạng đại học hàng đầu thế giới.


SVVN: Có ý kiến cho rằng, đại học của ta KHÔNG THỂ phải không phát triển, mà KHÓ phát triển. Ông nghĩ sao?

NVT: Tôi cũng nghĩ như thế: khó phát triển. Khó phát triển là vì các đại học vẫn chưa được tự chủ và chưa có tự do học thuật. Đó là một điều đáng buồn và đáng suy nghĩ. Trong khi các nước trong vùng như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Singapore, v.v. đều có ít nhất một đại học trong danh sách đại học hàng đầu trong vùng Á châu hay trên thế giới, còn Việt Nam thì chưa có một đại học nào có thể “sánh vai” với các đại học hàng đầu trong vùng. 

Chúng ta có thể biện minh rằng là do chiến tranh và cô lập, và có ít thời gian để phát triển. Nhưng tôi e rằng những biện minh đó khó thuyết phục, bởi vì có nhiều đại học trong vùng chỉ cần 20 hay 30 năm là đã trở thành đẳng cấp quốc tế. Nói theo văn hào Dostoievsky, tất cả tuỳ thuộc vào chính chúng ta; chúng ta tự định đoạt số mệnh của mình chứ không nên đổ thừa cho ai.

SVVN: Trong Đề án mới của Bộ GD&ĐT, có đề cập đến chuyện: đảm bảo tự do học thuật nhưng phải theo đường lối XHCN. Ông suy nghĩ gì với tư cách làm một người từng dành cuộc đời mình cho giáo dục đại học?

NVT: Tôi nghĩ có lẽ có sự hiểu lầm hay hiểu khác về tự do học thuật ở đây. Theo tôi hiểu, khái niệm tự do học thuật (academic freedom) chẳng phải là mới, vì nó đã được xiển dương từ thập niên 1950 bên Mĩ. Thời đó, chủ nghĩa McCarthy và những người theo chủ nghĩa này gieo rắc và khủng bố các giáo sư đại học, những người đề cập đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Khái niệm tự do học thuật ra đời để bảo vệ các giáo sư có quyền suy nghĩ, lí giải, và phát biểu những vấn đề và ý tưởng mà không sợ bị trừng phạt bởi các thế lực chính trị và đại học.

Nói cụ thể hơn, tinh thần tự do học thuật áp dụng cho giảng viên và sinh viên. Đối với giảng viên, tự do học thuật có nghĩa là giảng viên có quyền nghiên cứu bất cứ chủ đề nào mà họ quan tâm, có quyền trình bày những kết quả đó cho sinh viên và đồng nghiệp mà không chịu sự đàn áp hay kiểm duyệt của các thế lực chính trị. Đối với sinh viên, tự do học thuật có nghĩa là tự do học các chủ đề mà họ quan tâm và có quyền đi đến kết luận, có quyền phát biểu ý kiến cá nhân của họ liên quan đến chủ đề học. Còn nếu cho rằng tự do học thuật phải theo một định hướng thì tôi nghĩ đó không đúng với tinh thần của tự do học thuật.


SVVN: Có ý kiến cho rằng, Singapore cũng có một thể chế độc đoán, nhưng họ đang thành công với mô hình đại học của mình. Và trong chuyện xây dựng tinh thần đại học, ta có thể học được cái hay từ cách làm của họ? Ông nghĩ sao về ý kiến này? (Mô hình đại học nào mà ông thấy có thể phù hợp với VN?)

NVT: Tôi nghĩ không nhất thiết VN phải học Singapore hay mô hình đại học Singapore. Đứng về mặt tự do học thuật, các đại học Singapore chưa thể là một mô hình để chúng ta phải học theo. Mới đây, một giáo sư về báo chí của một đại học Singapore bị cắt hợp đồng chỉ vì bà chỉ trích tự do báo chí ở Singapore. Ở China, vì thiếu tinh thần tự do học thuật, nên các đại học danh tiếng như Stanford và Columbia không thiết lập chi nhánh ở China.

Theo tôi thấy, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm thành công của những trường đại học mới thành lập và đã nhanh chóng trở thành những đại học hàng đầu thế giới. Tôi muốn nói đến Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông (HKUST), Đại học Khoa học và Công nghệ Pohang (Pohang University of Science and Technology) của Hàn Quốc, Đại học Quốc gia Singapore, Học viện Công nghệ Monterrey (Monterrey Institute of Technology) của Mexico, v.v. Đó là những đại học chỉ trong thời gian 20-30 năm đã vươn lên và trở thành đại học đẳng cấp thế giới. Cái mẫu số chung của những đại học vừa kể trên là họ tuyển dụng nhiều giáo sư tài giỏi và tuyển mộ sinh viên có học lực tốt;  họ có ngân sách dồi dào; và quan trọng là có lãnh đạo tốt, với tầm nhìn chiến lược.

Nhưng theo tôi thấy Việt Nam sẽ rất khó học áp dụng bài học thành công của họ, vì thể chế tổ chức trong các đại học Việt Nam còn cứng nhắc. Ở ngoài này người ta tuyển lãnh đạo đại học và giáo sư đại học qua quảng cáo khắp thế giới, nhưng ở Việt Nam thì theo cơ chế “qui hoạch” với vai trò quyết định của Đảng thì rất khó thu hút được người tài. Người tài không thích ai định hướng cho mình, và họ đòi hỏi tự do trong suy nghĩ và ngôn luận. Do đó, Việt Nam nói đến học kinh nghiệm ngoài, nhưng nếu đại học không được tự chủ và không có tinh thần tự do học thuật thì việc mô phỏng theo các mô hình đại học khác trên thế giới chẳng có ý nghĩa gì.


SVVN: Đại học là nơi sản sinh và tích dồn tri thức, để làm giàu trực tiếp và gián tiếp cho một quốc gia. Nhưng vai trò này của các đại học ở VN rất mờ nhạt, yếu tố nào để cải cách các đại học hiện nay, thưa ông?

NVT: Tôi nghĩ nói cho công bằng thì các đại học Việt Nam cũng đã có đóng góp cho nền kinh tế và khoa học Việt Nam, nhưng có lẽ gián tiếp nhiều hơn là trực tiếp. Các đại học VN đã đào tạo những chuyên gia cho nền kinh tế, các nhà khoa học, và đó là một đóng góp rất đáng kể.

Nhưng đóng góp trực tiếp của các đại học Việt Nam cho nền kinh tế thì vẫn còn lu mờ. Bằng sáng chế từ các đại học Việt Nam hầu như không đáng kể. Các giáo sư đại học cũng chưa có nhiều sáng chế gì đáng chú ý. Các đại học Việt Nam dĩ nhiên chưa thể ở vị trí thu hút sinh viên nước ngoài để tạo ra hàng tỉ USD cho ngân sách quốc gia như các đại học phương Tây.

Nhưng tôi nghĩ các đại học Việt Nam có thể làm tốt hơn nữa trong việc đóng góp cho nền kinh tế. Làm như thế nào thì lại là một câu hỏi lớn đã chiếm thời gian và tiêu hao công sức của rất nhiều người quan tâm. Tôi nghĩ đến một chiến lược liên kết chiến lược giữa các doanh nghiệp kĩ nghệ và đại học. Cần có những cơ chế để cho những người trong doanh nghiệp kĩ nghệ (có nghiên cứu) tham gia vào việc đào tạo sinh viên, và họ cũng được ghi nhận qua các chức danh học thuật. 

Đối với các ngành nghiên cứu khoa học xã hội tôi nghĩ thách thức còn lớn hơn các ngành khoa học và kĩ thuật. Có nhiều chủ đề mà giới khoa học xã hội quan tâm nhưng có khi được xem là “tế nhị” hay “nhạy cảm” nên đành phải gác lại. Đây cũng là một vấn đề về tự do học thuật.

SVVN: Theo ông, hệ thống đại học của ta hiện nay phải “gỡ” nút thắt nào đầu tiên?

NVT: Thú thật, tôi vẫn nghĩ đến tự chủ và tự do học thuật. Đại học cần phải có quyền tự chủ trong việc quyết định bổ nhiệm giảng viên, giáo sư, quyết định chế độ lương bổng, quyền tuyển sinh, và chủ động trong việc soạn thảo chương trình giảng dạy. Tự do học thuật cần phải được tôn trọng. Một khía cạnh khác của tự do học thuật chính là tự chủ, hiểu theo nghĩa đại học có quyền bổ nhiệm giáo sư, hoạch định chương trình giảng dạy, và theo đuổi nghiên cứu vì lợi ích khoa học và nghệ thuật chứ không vì lợi ích của các nhóm lợi ích và chính trị trong xã hội. Tôi nghĩ không có tự do học thuật thì khoa học xã hội Việt Nam rất khó phát triển.


SVVN: Theo ông, làm thế nào để xây dựng được một tinh thần đại học đúng nghĩa?

NVT: Tôi nghĩ đến mô hình đại học dựa trên tinh thần khai sáng của Immanuel Kant và lí tưởng liberal của Friedrich Schleiermacher.  Đại học không chỉ là trung tâm đào tạo nhân tài, mà còn là một trung tâm khoa học và văn hóa, với tự do học thuật được xem là đặc điểm quan trọng nhất. Không có tự do học thuật, đại học khó mà hoàn tất sứ mệnh phản biện xã hội của mình, và khó có thể đóng góp tích cực cho Nhà nước và xã hội.