Hiển thị các bài đăng có nhãn y khoa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn y khoa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

Khoe nghiên cứu mới xuất bản: béo phì ở VN

Mấy hôm nay tôi bận bịu với workshop về phương pháp nghiên cứu khoa học (dành cho khối khoa học xã hội và kinh tế) nên không có thì giờ viết cái note nào. Nhưng hôm nay phải viết một cái note để giới thiệu công trình nghiên cứu quan trọng này. Đó là công trình định tiêu chuẩn để chẩn đoán béo phì cho người Việt (và Á châu nói chung). Câu chuyện đằng sau công trình này hơi lòng vòng và tôi sẽ giải thích để các bạn hiểu.



Trước đây và cho đến nay, người ta dùng chỉ số tỉ trọng cơ thể (body mass index hay BMI) để chẩn đoán béo phì. BMI được tính bằng cách lấy trọng lượng cơ thể (kg) chia cho chiều cao bình phương (m^2). Ví dụ như một phụ nữ có trọng lượng là 60 kg và chiều cao 1.56 m, thì BMI của chị ấy là 24.6. Theo tiêu chuẩn của WHO, người nào có BMI 30 hay cao hơn thì được xem là "béo phì". Dựa vào tiêu chuẩn này, chúng tôi ước tính chỉ có 1.5% người Việt là béo phì, còn người Âu Mĩ thì khoảng 25-30%.

Nhưng BMI có vấn đề, vì nó không phân biệt được thành phần cơ thể. Trọng lượng cơ thể bao gồm chủ yếu là lượng mỡ (fat mass) và lượng cơ (lean mass hay nạc). Do đó, một người như Arnold Schwarzenegger thì sẽ được xem là béo phì, nhưng chẩn đoán này sai. Sai là vì anh chàng này có nhiều lượng cơ và ít mỡ. Nhiều mỡ mới đáng quan tâm, chứ nhiều cơ là ok.

Do đó, tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì nên dựa vào tỉ trọng mỡ, tức là phần trăm mỡ trong cơ thể (thuật ngữ tiếng Anh viết tắt là PBF - percent body fat). Nhưng vấn đề đặt ra là PBF bao nhiêu thì có thể xem là béo phì?

Để trả lời câu hỏi đó, chúng tôi làm một nghiên cứu ở VN trên khoảng 1200 nam và nữ, tuyển ngẫu nhiên từ Sài Gòn. Chúng tôi dùng máy DXA để đo PBF trong mỗi cá nhân. (Máy DXA là tiêu chuẩn vàng để đo lượng mỡ và cơ trong cơ thể.) Tính trung bình, chúng tôi thấy PBF của nam giới là 25% và nữ giới là 35%. Nói cách khác, mỗi phụ nữ VN mang trong người khoảng 18 kg mỡ, và nam là 15 kg.
Chúng tôi phân tích mối tương quan giữa PBF và BMI thì thấy mối tương quan như sau:

PBF (nữ) = -18.9 + 0.044*tuổi + 3.473*BMI - 0.051*BMI*BMI

PBF (nam) = -29.8 + 0.044*tuổi + 3.473*BMI - 0.051*BMI*BMI

(Các bạn có thể thế tuổi và BMI của mình vào phương trình trên để ước tính mình có bao nhiêu phần trăm mỡ trong cơ thể.)

Phân tích thêm, chúng tôi đề nghị lấy PBF > 30 ở nam giới và PBF > 40 ở nữ giới làm tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì. Dự vào tiêu chuẩn này, có khoảng 15% nam và nữ ở Sài Gòn được xem là béo phì.

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ứng dụng công nghệ DXA để nghiên cứu béo phì ở VN. Trước đây, người ta chỉ dùng các chỉ số "thô" như BMI để nghiên cứu béo phì, nhưng công trình này chỉ ra rằng có thể dùng PBF để chẩn đoán béo phì chính xác hơn. Tôi hi vọng rằng công trình này sẽ mở ra một hướng đi mới cho nghiên cứu béo phì ở VN trong tương lai.

Qua bài báo này, chúng tôi cũng phản bác một tiêu chuẩn tồn tại khá lâu trong thế giới y khoa. Đó là mấy người ở Singapore đề nghị lấy tiêu chuẩn PBF>25% (nam) hay PBF>35% (nữ) để chẩn đoán béo phì, và họ nói rằng tiêu chuẩn này là từ một báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Chúng tôi chỉ ra rằng nhóm tác giả Singapore đã nói dóc trong suốt 15 năm trời, vì WHO không hề đề ra tiêu chuẩn nào như thế cả. Cho đến nay, chúng tôi vẫn không hiểu tại sao nhóm Singapore lại có thể nói dóc lâu như thế. Nhưng qua bài báo này thì cái tiêu chuẩn 25/35 đó sẽ trở thành "huyền thoại".

Địa chỉ của bài báo là:
http://journals.plos.org/plosone/article?id=10.1371%2Fjournal.pone.0127198

Ngoài ra, còn có bài trên Sức khoẻ & Đời sống giới thiệu công trình này:

http://suckhoedoisong.vn/ban-can-biet-ve-y-hoc/chuan-moi-chan-doan-beo-phi-o-nguoi-viet-nam-20150528191827425.htm
Chuẩn mới chẩn đoán béo phì ở người Việt Nam



Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2015

Phát hiện gen liên quan đến loãng xương ở người Việt

Tôi rất hân hạnh giới thiệu một công trình nghiên cứu mà chúng tôi rất tâm đắc, vì lần đầu tiên chúng tôi phát hiện 3 gen có liên quan đến mật độ xương ở người Việt. Đây là một nghiên cứu với chủ trương "liệu cơm gắp mắm", có nghĩa là chỉ có thể làm đến mức mà ngân sách [cực kì thấp] cho phép. Nhưng chúng tôi tự hào là với số tiền chỉ đáng tiền lẻ của những đại gia, và còn thấp hơn cái giá của một cái túi xách tay của họ, mà chúng tôi làm được một việc có ích cho cộng đồng. Trong tương lai, chúng tôi sẽ còn "mò kim đáy biển" nữa để tìm gen và qua đó nâng cao sự có mặt của VN trong thế giới nghiên cứu về gen.



Phát hiện gen liên quan đến loãng xương ở người Việt


Thông tin từ trường ĐH Tôn Đức Thắng ngày 14.3: Các nhà khoa học của trường vừa hoàn tất một công trình nghiên cứu quan trọng phát hiện 3 gen có liên quan đến loãng xương ở người Việt. Công trình đã được công bố trên “Bone”- một tạp chí hàng đầu thế giới về loãng xương và là công trình nghiên cứu về di truyền loãng xương đầu tiên ở Việt Nam.


Loãng xương là một vấn đề y tế lớn ở Việt Nam, vì gần 1/3 phụ nữ mãn kinh và 1/10 nam giới trên 60 tuổi bị loãng xương. Mỗi năm có hơn 10.000 người bị gãy cổ xương đùi, và trong số này có đến 20% tử vong sau 12 tháng bị gãy xương.

Bác sĩ Hồ Phạm Thục Lan, chủ trì công trình nghiên cứu cho biết: "Đã từ lâu, giới khoa học đã biết loãng xương là do các yếu tố di truyền chi phối, nhưng không ai biết gen nào có liên quan đến loãng xương ở người Việt.”

Trong nghiên cứu này, bác sĩ Thục Lan và cộng sự rà soát hệ gen và tập trung vào 30 gen đã được phát hiện ở người da trắng, và phân tích với mật độ xương ở người Việt. Bác sĩ Thục Lan phát hiện 3 gen, cụ thể là MBL2, SP7 and ZBTB40, có liên quan đến mật độ xương ở người Việt.

Đây là một công trình nghiên cứu về di truyền loãng xương đầu tiên ở Việt Nam. Các nhà khoa học sử dụng công nghệ phân tích di truyền hiện đại nhất của Viện nghiên cứu y khoa Garvan (Australia) để phân tích gen.

“Một trong những phát hiện thú vị từ phân tích này: Một số biến thể gen có ảnh hưởng tích cực đến mật độ xương ở người da trắng, nhưng những biến thể đó lại liên quan đến sự suy giảm mật độ xương ở người Việt”, bác sĩ Thục Lan nói. Đây là một minh chứng cho khái niệm tương tác giữa gen và di truyền mà các nhà khoa học đã từng nói đến trong nhiều năm qua. Phát hiện này cũng nhấn mạnh rằng các yếu tố môi trường có thể làm thay đổi ảnh hưởng của gen.

Giáo sư (GS) Nguyễn Văn Tuấn, đồng Trưởng nhóm nghiên cứu cơ xương - Trường ĐH Tôn Đức Thắng cho biết, 3 gen mới phát hiện có mức độ ảnh hưởng tương đối thấp. Ông nói: “Cả 3 gen chỉ “giải  thích” 3% khác biệt về mật độ xương giữa các cá nhân. Có thể xem đây là cơ hội để tiếp tục khám phá…”

Với nghiên cứu về di truyền loãng xương hơn 20 năm qua, GS Nguyễn Văn Tuấn cho biết, còn rất nhiều gen liên quan đến loãng xương ở người Việt cần khám phá. Nhóm nghiên cứu của ông đang lên kế hoạch áp dụng công nghệ phân tích trình tự hệ gen (whole genome sequencing) để phát hiện các gen kém phổ biến trong dân số. Ông hi vọng, trong tương lai Nhóm nghiên cứu cơ xương sẽ khám phá nhiều gen liên quan đến loãng xương ở người Việt.

Cũng theo GS Tuấn, phát hiện gen liên quan đến loãng xương có ý nghĩa quan trọng vì gen giúp con người tiên đoán bệnh sớm hơn và chính xác hơn. Hiểu về cơ chế ảnh hưởng của gen có thể giúp phát triển thuốc mới để điều trị loãng xương. Ngoài ra, thông tin về gen có thể giúp nhận dạng những bệnh nhân đáp ứng điều trị tốt hơn.