Hiển thị các bài đăng có nhãn xuất bản khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn xuất bản khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

SCIRP: Nhà xuất bản dỏm


Cách đây vài tuần, tôi nhận được một email từ nhà xuất bản có tên là SCIRP (Scientific Research Publishing, scirp.org) từ Tàu mời tham gia ban biên tập một tập san họ sắp khai trương. Chỉ cần đọc qua email với tiếng Anh lôm côm và vài phút xem qua các "tập san" SCIRP xuất bản tôi đã biết đây là một cơ sở dỏm. Hôm nay đọc qua trang retractionwatch.com tôi càng an tâm rằng phán xét của mình là đúng. Càng ngạc nhiên khi tôi thấy có rất nhiều nhà khoa học VN đã là nạn nhân của SCIRP!


Số là Giáo sư Jeffrey Beall phát hiện một bài báo tựa đề “Basic Principles Underlying Human Physiology” (1), cho rằng AIDS chẳng có liên quan gì đến HIV, được công bố trên SCIRP. Đọc qua là biết bài báo dỏm, đi ngược lại kiến thức phổ thông của trường khoa học. Bài báo vẫn có thể xem qua cache (2). Tác giả bài báo là Dumitru Pavel thuộc Bucharest Medical University (Đại học Y khoa Bucharest). Tuy nhiên, người ta kiểm tra thì không có đại học nào ở Romania với tên đó cả! Bài báo đã bị SCIRP rút xuống khỏi website vì họ nói là nội dung cần phải nghiên cứu thêm (1).

Nhưng sự rút lại bài báo không làm tăng uy tín của SCIRP. Trong thực tế, SCIRP chỉ là một nhà xuất bản dỏm. Chỉ cần nhìn qua vài dòng đầu của bài báo của Pavel là đủ biết nó dỏm cỡ nào vì sai tiếng Anh thê thảm: "The exogenous and endogenous stimulating factors stimulate the functional and metabolic activities in the body by means of the nervous system. Physiologically, there are basic neural interactions between the body’s organ systems, the autonomic nervous system (ANS), and the specialized specific nervous areas of the central nervous system (CNS)."  Nội dung câu văn thì cứ như là sinh viên làm bài tập y khoa! Bài báo chỉ có 1 tài liệu tham khảo, và tác giả tài liệu đó chính là … Pavel! Thử hỏi một nhà xuất bản nghiêm chỉnh nào mà có thể công bố bài báo như thế?!

Nhưng cái nguy hiểm của SCIRP là nó có một "bộ mặt" khá chỉnh chu, và làm cho nhiều người lầm. Họ cũng có pdf, html, thậm chí cả DOI! SCIRP có hàng trăm tập san, và có những tập san đọc tên đã là cười té ghế, như "Advances in Internet of Things" (nhưng là một ngành học đàng hoàng). Đọc qua email của họ, tôi có thể đoán họ chỉ chuyên săn tìm những ai không am hiểu khoa học để làm mồi. Mỗi tác giả công bố trên đó phải trả khá nhiều tiền. Có thể SCIRP chẳng quan tâm gì đến khoa học cả, nên nội dung bài báo đọc có khi rất hài hước, còn văn phong thì khỏi nói là quá tệ.

Có RẤT nhiều nhà nghiên cứu ở VN đã là nạn nhân của SCIRP. Tôi thử tìm họ "Nguyen" trong trang scirp.org thì thấy có khá nhiều người ở VN đã là nạn nhân của SCIRP. Có tác giả như Nguyen Van Minh, Nguyen Manh Hung thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyen Khac Minh, Pham Van Khanh thuộc Đại học Kinh tế Quốc Dân Hà Nội. Thậm chí có tác giả có tiếng như Gs Võ Văn Tới của Đại học Quốc Tế (ĐHQGHCM) cũng có bài ở đây! Rất nhiều tác giả từ các trường đại học và viện nghiên cứu có tiếng ở VN, từ Hà Nội, Huế đến Sài Gòn, có tên trong SCIRP! Có cả tác giả từ các nước như Úc và Mĩ có bài trên SCIRP! Phải nói là tôi bị sốc vì có những tên tuổi tôi nhận ra là người thật (3) việc thật mà lại xuất hiện trên SCIRP!

Tôi đồng ý với Jeffrey Beall rằng có thể có một số tác giả là nhà nghiên cứu thật, nhưng vì không am hiểu tập san khoa học nên bị SCIRP lừa gạt và mất tiền một cách đáng tiếc. Những gì họ công bố trên SCIRP sẽ chẳng được người trong chuyên ngành đánh giá cao, nếu không muốn nói là cười sau lưng. Thử tưởng tượng người ta đọc CV và thấy có bài trên mấy tập san của SCIRP, xấu hổ như thế nào. Sự xuất hiện của SCIRP có thể sẽ gây khó khăn cho các cơ quan tài trợ và đánh giá khoa học ở VN, vì họ có thể xem những công bố trên SCIRP là "publication", và có khi tác giả được thưởng. Tuy nhiên, với những người am hiểu về xuất bản khoa học thì họ không thể bị lừa gạt như thế. Qua cái note này, tôi muốn gửi lời cảnh báo đến các đồng nghiệp trong nước là phải cẩn thận chọn tập san để công bố. Trong khoa học cũng có đẳng cấp thật và dỏm. Thà không công bố, chứ nhất định đừng để trở thành nạn nhân của các trò lừa đảo mang danh xuất bản khoa học.


====


(2)  http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:TA_2sBse7PIJ:http://file.scirp.org/Html/16-8202967_48191.htm

(3) Một số địa chỉ (chỉ ngẫu nhiên tìm):

Nguyen Ngoc Huy1, Dang Dinh Chau2
Vietnam National University of Science, Hanoi, Vietnam
Nguyen Khac Minh1, Pham Van Khanh2
National Economics University, Hanoi, Vietnam
Ho Vu1, Le Si Dong1, Nguyen Ngoc Phung1, Ngo Van Hoa2, Nguyen Dinh Phu
1Faculty of Basic Education, Banking University of Ho Chi Minh City, Ho Chi Minh City, Vietnam
2Faculty of Mathematics and Computer Science, Vietnam National University, Ho Chi Minh City, Vietnam
Trinh Thi Linh1*, Nguyen Thi Anh Thu1, Nguyen Dieu Huong2
1Faculty of Psychology, University of Social Sciences and Humanities Affiliated to Vietnam National University, Hanoi, Vietnam
2Ministry of Science and Technology, Hanoi, Vietnam
Nguyen Tan Phat
University of Economics & Law, Vietnam National University HCMC, Ho Chi Minh City, Vietnam
Khan M. Hua, Thach N. Le*
Department of Organic Chemistry, Faculty of Chemistry, University of Science, Vietnam National University-Ho Chi Minh City, Ho Chi Minh City, Vietnam
Nguyen Thi-Hiep1*, Dao Van Hoa2, Vo Van Toi1
1Biomedical Engineering Department, International University of Vietnam, National Universities in Ho Chi Minh City, Ho Chi Minh City, Vietnam
2Department of Research and Development, Hoa Hiep Co. Ltd., Ho Chi Minh City, Vietnam
Trinh Hoa Lang1, Chau Van Tao1, Kieu Tien Dung2, Le Hoang Chien1
1Faculty of Physics and Engineering Physics, University of Science, Ho Chi Minh City, Vietnam
2Swinburne University of Technology, Melbourne, Australia
Tran Tuan Anh1, Pham Ngoc Son1, Vuong Huu Tan2, Pham Dinh Khang1, Phu Chi Hoa3
1Nuclear Research Institute, Dalat, Vietnam
2Vietnam Agency for Radiation and Nuclear Safety, Hanoi, Vietnam
3The University of Dalat, Dalat, Vietnam
Thao-Tran Thi Nguyen1, Duy-Khiem Nguyen Chau1, Fritz Duus2, Thach Ngoc Le1*
1Department of Organic Chemistry, Hochiminh University of Science, Hochiminh City, Vietnam
2Department of Science, Systems and Models, Roskilde University, Roskilde, Denmark
Tran Van Hung
Research and Development Center for Radiation Technology, Hochiminh City, Vietnam
Dang Duc Nhan1*, Doan Van Canh2, Pham Quy Nhan3, Nguyen Thi Thanh Thuy4, Dinh Thi Bich Lieu5, Vo Thi Anh5, Dang Anh Minh5
1Vietnam Atomic Energy Institute, Hanoi, Vietnam; 2Vietnam Association of Hydrogeology, Hanoi, Vietnam; 3Center for Water Resources Management, Hanoi, Vietnam; 4Hanoi University of Mining and Geology, Hanoi, Vietnam; 5Institute for Nuclear Science and Technology, Hanoi, Vietnam.
Le Anh Minh, Hoang Nam, Nguyen Xuan Thuan
Department of Natural Sciences, Hong Duc University, Thanh Hoa, Vietnam
Huong Thi Le, Nga Thi Thu Vu, Doan Thi Thu Huyen, Nguyen Van Toan
Institute for Preventive medicine and Public Health, Hanoi Medical University, Hanoi, Vietnam


Thứ Hai, 25 tháng 8, 2014

Xuất bản khoa học: một mạo hiểm cần sự cẩn thận

Nhiều đại học ở Á châu lập tạp chí khoa học để quảng báo nghiên cứu của trường và qua đó nâng cao uy danh của trường trên thế giới. Ở Việt Nam một số trường đại học cũng có ý định lập tạp chí khoa học quốc tế. Tuy nhiên, đằng sau ý tưởng là những khó khăn trong việc điều hành và duy trì sự sống còn của tạp chí mà có khi ít ai nghĩ đến.


Tạp chí khoa học có bình duyệt (1) là một trong những yếu tố định hình khoa học hiện đại, nhưng có một lịch sử khá lâu đời. Có thể xem tạp chí Philosophical Transactions of the Royal Society của Anh, xuất bản lần đầu năm 1665, là tạp chí khoa học đầu tiên trên thế giới vì tạp chí công bố những kết quả nghiên cứu khoa học. Từ truyền thống đó, tạp chí khoa học được xem là một diễn đàn, nơi mà các nhà khoa học công bố kết quả nghiên cứu, chia sẻ ý tưởng và phương pháp. Vì tính liên tục trong xuất bản, tạp chí khoa học là một phương tiện chuyển tải thông tin từ thế hệ này sang thế hệ tiếp nối. Gerard Piel (người đầu tiên xuất bản tạp chí Scientific American) từng nói một câu chí lí rằng nền khoa học sẽ chết nếu không có công bố (Without publication, science is dead”).

Tôi nghĩ tạp chí khoa học còn mang ý nghĩa xã hội. Đó là nơi để chúng ta lưu trữ chứng từ khoa học về một vấn đề nào đó. Chứng từ khoa học rất quan trọng vì nó có thể được sử dụng chẳng những trong khoa học, sinh hoạt hàng ngày, mà còn trong toà án. Chẳng hạn như thông tin khoa học về biển đảo của Việt Nam nếu được công bố trên các tạp chí khoa học thì nó trở thành chứng từ khoa học để có thể đề cập đến. Còn nếu chúng ta nói những thông tin đó công bố trên báo [chỉ là ví dụ] Tuổi trẻ thì nó khó thể xem là chứng từ khoa học được vì chưa qua bình duyệt bởi đồng nghiệp. Do đó, tạp chí khoa học đóng vai trò quan trọng là ở chỗ lưu trữ và “đóng dấu” chứng từ có thế hệ hôm nay và mai sau.

Phong trào thành lập tạp chí khoa học

Tạp chí khoa học xuất phát từ Âu châu, và sau này được phát triển mạnh ở Mĩ, nên các nước Âu Mĩ đã và đang “thống trị” các diễn đàn khoa học thế giới. Có thể nói rằng 99% các tạp chí khoa học hiện nay là do Mĩ và vài nước Tây Âu như Anh, Đức, và các nước Bắc Âu chiếm lĩnh. Tiêu chuẩn công bố cũng do các nước này, đặc biệt là Mĩ, đề ra và xét duyệt. Hiện nay, có thể nói hầu hết những tạp chí danh giá nhất, uy tín nhất và có ảnh hưởng lớn nhất đều xuất phát từ Mĩ. Nhà khoa học có công trình có chất lượng cao đều có xu hướng gửi bài và công bố trên các tạp chí của các nước Âu Mĩ.

Trong vài thập niên gần đây, khi kinh tế các nước Á châu phát triển, nghiên cứu khoa học rất được quan tâm. Tuy nhiên, các nhà khoa học Á châu dần dần nhận ra rằng các bài báo của họ bị từ chối nhiều hơn các bài báo của các đồng nghiệp Âu Mĩ. Trong một phân tích do tập san quang tuyến American Journal of Roentgenology thực hiện, trong số hơn 5000 bản thảo của các tác giả trên khắp thế giới nộp trong vòng 2 năm, các bài từ Mĩ có tỉ lệ từ chối là 28%, còn các nước Châu Á thì cao hơn, như Ấn Độ 73%, Đài Loan 54%, China 42%, Nhật 42%, v.v. Những khác biệt đó làm nhiều người suy nghĩ vì rõ ràng đó là những khác biệt mang tính hệ thống và có thể làm thiệt thòi các nước khác.

Tuy chưa có bằng chứng để nói sự khác biệt về tỉ lệ từ chối bài báo khoa học là thể hiện sự kì thị, nhưng các nhà khoa học Á châu nhận ra rằng họ cần có những tạp chí cho riêng họ. Nhật đã từng lập tạp chí khoa học cho Nhật hơn 50 năm qua. Thế là một phong trào lập tạp chí khoa học ở các nước đang phát triển bắt đầu. Ở Trung Quốc và Trung Đông nhiều đại học kí hợp đồng với các nhà xuất bản nổi tiếng trên thế giới để lập tạp chí khoa học. Phong trào lập tạp chí khoa học do các trường làm chủ quản tuy có vài lợi thế nhưng cũng đặt ra vài vấn đề thực tế.

Đằng sau một tạp chí khoa học

Xây dựng một tạp chí khoa học mới là một việc làm đầy gian nan. Một tạp chí khoa học cần phải có một cơ quan chủ quản, tổng biên tập, một ban biên tập, và một nhà xuất bản.  Cơ quan chủ quản thường là hội chuyên môn hoặc trường đại học hoặc viện nghiên cứu. Khái niệm chủ quản ở đây không giống như chủ quản của báo chí phổ thông. Nếu cơ quan chủ quản là một hiệp hội chuyên môn, họ thường có một uỷ ban xuất bản, và uỷ ban này lo việc thành lập và quản lí tạp chí. Quản lí về nội dung khoa học, định hướng, bổ nhiệm tổng biên tập, quảng lí ban biên tập, và quản lí tài chính. Dĩ nhiên, cơ quan chủ quản không can thiệp vào quyết định công bố hay từ chối bài báo vì đó là nhiệm vụ của ban biên tập và tổng biên tập.

Một tạp chí khoa học phải có một ban biên tập mà đứng đầu là tổng biên tập. Tổng biên tập của tạp chí khoa học không phải và không cần phải là một nhà khoa học lừng danh thế giới. Người ta chọn tổng biên tập dựa vào thành tích khoa học khá và có kinh nghiệm xuất bản khoa học cũng như kinh nghiệm quản lí khoa học, kể cả đạo đức khoa học. Tổng biên tập không phải do nhà xuất bản bổ nhiệm như vài người hiểu lầm. Nếu cơ quan chủ quản là trường đại học hay hiệp hội chuyên môn thì họ chính là cơ quan bổ nhiệm tổng biên tập. Tổng biên tập là người lập ban biên tập của tạp chí. Thành viên ban biên tập thường là người quen của tổng biên tập hoặc người trong chuyên ngành. Nếu là tạp chí nghiêm chỉnh, tất cả thành viên của ban biên tập là những nhà khoa học có tiếng tốt trên trong chuyên ngành. Nhưng trong thực tế vì bè bạn nên một số thành viên ban biên tập xuất hiện như là một cái tên không hơn không kém chứ chẳng có đóng góp gì cho tạp chí.

Tạp chí khoa học phải có một nhà xuất bản. Trước đây, một số hiệp hội và trường đại học lớn họ có nhà xuất bản riêng, nên họ tự xuất bản. Tuy nhiên, đối với các hiệp hội nhỏ và các trường chưa có kinh nghiệm xuất bản thì thường kí hợp đồng với một nhà xuất bản. Trong thế giới khoa học, chỉ có một số nhà xuất bản đang thống trị kĩ nghệ này như Elsevier, Springer, Wiley, Blackwell, Taylor & Francis, v.v. Trong vài trường hợp nhà xuất bản cũng có thể thành lập và đóng vai trò chủ quản tạp chí khoa học.

Nhà xuất bản là một doanh nghiệp, và họ lúc nào cũng tìm thị trường mới. Một số tập đoàn xuất bản khoa học nổi tiếng như Nature và Elsevier đã có mặt ở Á châu hơn 10 năm, vì họ thấy nghiên cứu khoa học ở China và Á châu đang phát triển rất nhanh, nên nhu cầu xuất bản rất lớn. Do đó, đối với nhà xuất bản, họ không quá quan tâm đến sự danh tiếng của tổng biên tập hay ban biên tập, nhưng họ quan tâm đến lợi nhuận và thị trường đầu tiên.  Mỗi một bài báo được xuất bản họ lấy tiền ấn phí từ tác giả từ 600 USD đến 2000 USD, tuỳ theo hình thức xuất bản và tuỳ theo tạp chí. Xuất bản theo mô hình Mở (còn gọi là Open Access, chỉ “in” online chứ không có in trên giấy) thường có ấn phí đắt hơn gấp 2 lần xuất bản theo mô hình truyền thống (tức in trên giấy). Tuy nhiên, một số nhà xuất bản miễn phí cho các tác giả từ các nước nghèo như Việt Nam.

Lập tạp chí đã khó, duy trì còn khó hơn

Một tạp chí mới lập ra như một doanh nghiệp mới được thành lập có một tương lai mịt mờ. Trên thế giới ngày nay có hơn 100,000 tạp chí khoa học, nhưng chỉ có trên dưới 5,000 hay 10,000 (tuỳ vào dữ liệu) được công nhận. Được công nhận ở đây là được các tổ chức như Viện thông tin khoa học Hoa Kì (ISI) đưa vào danh mục các tạp chí khoa học.

Quá trình từ lúc ra đời đến lúc một tạp chí được chấp nhận vào danh mục ISI là một phấn đấu gian nan. Trước hết, ngoài ban biên tập có thành viên quốc tế, tạp chí phải chứng minh là có bài vở công bố thường xuyên. Không chỉ công bố thường xuyên, những bài công bố phải được các đồng nghiệp trích dẫn (chứ không phải tự trích dẫn!) Nói cách khác, tạp chí phải có bài và bài vở phải có chất lượng, và chất lượng phản ảnh qua tần số trích dẫn.

Hơn 50% (có nơi 70%) các bài báo công bố trên các tạp chí không bao giờ được ai trích dẫn. Không được trích dẫn là một tín hiệu cho thấy công trình nghiên cứu có chất lượng quá kém hay vô bổ. Một tạp chí mới thành lập phải rất gian nan để có bài vở tốt. Nhưng các tác giả, ngay cả tác giả có tên trong ban biên tập, có công trình tốt sẽ gửi cho các tạp chí có hệ số ảnh hưởng (impact factor – IF) cao, chứ không bao giờ gửi cho các tạp chí mới vì chưa có IF. Các nghiên cứu sinh mới vào nghiên cứu cũng sẽ không gửi bài cho các tạp chí mới vì họ sẽ không có điểm và khó bảo vệ luận án.

Có một nhóm có thể gửi bài cho tạp chí mới, đó là những bài báo đã bị tất cả các tạp chí có IF từ chối công bố, nên họ sẽ gửi cho các tạp chí mới. Dù không ai muốn nói ra, ai cũng nghĩ rằng các tạp chí mới ra đời chỉ có thể công bố những bài báo có chất lượng thấp hay rất thấp. Như vậy, nếu không khéo, các tạp chí mới hứng lấy những bài báo mà các nơi đều bác bỏ và trở thành những thùng rác khoa học. Trong nhiều trường hợp tạp chí mới chỉ tồn tại một thời gian ngắn sau khi tổng biên tập không còn nữa.

Có nên lập tạp chí khoa học?

Việc các trường đại học Việt Nam muốn có một tạp chí khoa học bằng tiếng Anh có lẽ xuất phát từ truyền thống trước đây trường nào cũng có một tạp chí khoa học viết bằng tiếng Việt. Nhưng như tôi mô tả trên tạp chí khoa học rất khác với những tạp chí mang tính nội bộ trong trường. Lập tạp chí đã khó, nhưng duy trì nó có chất lượng là một thách thức lớn vì đòi hỏi nhân lực có kinh nghiệm, tiền bạc, và thời gian. Các đại học VN có lẽ không thiếu tiền để làm tạp chí khoa học, nhưng nhân sự có kinh nghiệm trong xuất bản khoa học chắc chắn thiếu.

Ngoài ra, còn vấn đề bài vở có chất lượng là một thách thức lớn. Ở VN nghiên cứu khoa học còn rất kém, nên bài vở sẽ không nhiều, và như nói trên nếu công bố những bài có chất lượng kém thì tạp chí sẽ có nguy cơ cao trở thành là một thùng rác khoa học không hơn không kém, và sẽ khó vào danh mục ISI. Hiện nay, theo tôi biết chưa có tạp chí nào của VN có trong danh mục ISI. Bất cứ trường nào muốn có tạp chí khoa học cần phải suy nghĩ nhiều lần trước khi thực hiện.

Thật ra, câu hỏi nghiêm chỉnh cần đặt ra là: các đại học Việt Nam có cần có một tạp chí khoa học bằng tiếng Anh như các nơi khác? Theo tôi là KHÔNG. Câu trả lời “không” là vì trong rừng tạp chí trên thế giới, một tạp chí khoa học từ VN khó có khả năng sống sót lâu dài do khả năng cạnh tranh không cao. Thay vì tốn tiền lập tạp chí khoa học bằng tiếng Anh, nên dành tiền đó để lập quĩ nghiên cứu cho các nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu. Thay vì lập tạp chí khoa học tiếng Anh, các đại học VN nên tập trung vào nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, và công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín và có ảnh hưởng cao.

Chú thích:

(1) tiếng Anh hay gọi là “peer reviewed journals” hay tạp chí có bình duyệt để phân biệt với các tạp chí không có bình duyệt. Để đăng bài trên các tạp chí có bình duyệt, các bài phải trải qua một qui trình phê bình và xét duyệt trước khi được chấp nhận (phần lớn là từ chối) cho công bố. 


Box

Nhà xuất bản – “ngồi mát ăn bát vàng”

Xuất bản khoa học là một thương vụ tuyệt vời vì đầu tư ít nhất mà lợi nhuận rất cao. Đầu tiên, nhà khoa học tốn tiền và thời gian để làm nghiên cứu, khi có kết quả, viết thành bản thảo và gửi cho tập san để họ đăng. Tạp chí có ban biên tập. Ban biên tập lo phần khoa học của bản thảo, phụ trách bình duyệt bài báo, và quyết định công bố hay không. Đến khi bài báo được chấp nhận cho công bố, nhà xuất bản gửi hoá đơn đến tác giả đòi tiền! Mỗi bài báo tác giả có thể trả từ 600 đến 2000 USD, tuỳ theo mô hình xuất bản và tạp chí.

Trong cái qui trình đó, nhà xuất bản chẳng làm gì cả: họ chẳng dính dáng đến việc nộp bài báo vì tác giả lo hết; họ chẳng chỉnh sửa bài báo vì đã có tác giả làm; họ chẳng cần in vì hiện nay đều xuất bản online. Họ chẳng cần trả lương cho ban biên tập (vì ban biên tập làm việc hoàn toàn không lương). Họ chỉ có hệ thống máy tính, phần mềm quản lí bản thảo, và … thương hiệu.

Chính kiểu làm tiền dễ dàng như thế, nên hiện nay có rất nhiều nhà xuất bản dỏm mọc lên khắp nơi trên thế giới. Chỉ với một máy tính nối mạng họ có thể lập ra hàng chục tạp chí dỏm với ban biên tập dỏm. Chiêu của họ là họ mời một vài chuyên gia thật nhưng có tính hám danh tham gia ban biên tập để thu hút người khác. Họ chấp nhận bản thảo chỉ trong vòng vài tuần! Những “nhà xuất bản” và “tạp chí” loại này đang là vấn nạn của xuất bản khoa học, nó làm cho cả nhà khoa học mới vào nghiên cứu dễ bị lừa.



Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Xuất bản khoa học: Mô hình nào cho VN?


Với tựa đề đó là tôi muốn nói đến scientific publication, chuyện đang khá là thời sự ở VN hiện nay. Xuất bản khoa học, theo tôi thấy, là một thương vụ tuyệt vời đối với nhà xuất bản. Đầu tiên, nhà khoa học tốn tiền và thời gian để làm nghiên cứu, khi có kết quả, viết thành bản thảo và gửi cho tập san để họ đăng. Tập san có ban biên tập. Ban biên tập lo phần khoa học của bản thảo, phụ trách bình duyệt bài báo, và quyết định công bố hay không. Đến khi bài báo được chấp nhận cho công bố, nhà xuất bản gửi hoá đơn đến tác giả đòi tiền! Trong cái qui trình đó, chúng ta thấy nhà xuất bản chẳng làm gì cả: họ chẳng dính dáng đến việc nộp bài báo vì tác giả lo hết; họ chẳng chỉnh sửa bài báo vì đã có tác giả làm; họ chẳng cần in vì hiện nay đều online. Họ chẳng cần trả lương cho ban biên tập (vì ban biên tập làm việc hoàn toàn không lương). Họ chỉ có hệ thống máy tính và mạng, và … thương hiệu. Mỗi bài nhà xuất bản lấy có thể 1500 – 2000 USD – gọi là “processing fee”. Họ làm tiền rất đẹp! Tôi không nghĩ ra doanh nghiệp nào mà “ngồi mát ăn bát vàng” như các nhà xuất bản khoa học.


Nhà xuất bản Biomed Central (BMC) là một trong những nhà xuất bản như thế. BMC là nhà xuất bản hoàn toàn online, ra đời từ năm 2000. BMC có ~180 tập san khoa học (tôi có tham gia như là thành viên sáng lập một tập san) và khoảng 100 nhân viên. Họ chủ trương và có thể nói là đi tiên phong trong mô hình bình duyệt mở, có nghĩa là tác giả biết danh tính của người duyệt bài mình. Cần nói thêm rằng các tập san theo mô hình “truyền thống” thì danh tính người bình duyệt hoàn toàn giữ kín (trên lí thuyết). Chỉ trong vòng 5 năm, BMC đã có những tập san nổi tiếng, hiểu theo nghĩa có impact factor cao. Mỗi năm thu nhập của họ là 15 triệu EUR.

Đến khi làm ăn khấm khá thì các nhà xuất bản lớn để ý. Trong đó có nhà xuất bản Springer, vốn đã có hơn 1000 tập san khoa học, nhưng họ chưa có kinh nghiệm xuất bản Mở (Open Access). Thấy BMC phát triển quá tốt, năm 2008, nhà xuất bản Springer mua đứt BMC với cái giá không ai biết. Tất cả những thương vụ mua bán này xảy ra đằng sau hậu trường, và các nhà khoa học làm việc không công cho BMC đều không hề hay biết. Với 180 tập san, tôi đoán có ít nhất 3600 nhà khoa học khắp thế giới làm việc không lương cho BMC. Vậy mà họ không hay biết gì cả cho đến khi CEO của BMC nói “Chúng ta đã bị Springer mua”. Qua vụ việc này, tôi muốn nói rằng trong xuất bản khoa học mà NHÀ XUẤT BẢN ĐÓNG VAI TRÒ CHỦ QUẢN tập san, vai trò của nhà khoa học chẳng được xem là quan trọng dù đóng góp của họ đem lại lợi tức cho nhà nhà xuất bản.

Do đó, không ngạc nhiên khi vài năm trước có một nhóm nhà khoa học đòi tẩy chay các nhà xuất bản khoa học. Họ chọn Elsevier là đối tượng tấn công trước, vì nhà xuất bản này lớn nhất thế giới, bủn xỉn nhất, và “dã man” nhất trong việc lấy ấn phí. Phong trào tẩy chay làn sang nhiều nơi làm cho Elsevier phải vội vàng đính chính và bớt bủn xỉn hơn. Nhưng trong thực tế, họ vẫn “ngồi mát ăn bát vàng” và giới khoa học vẫn phải đứng xếp hàng để trả tiền ấn phí cho họ! Khi một kĩ nghệ nó trở nên quá lớn như con voi thì xô nó ngã không phải là chuyện dễ dàng; may ra là chuyển hướng đi của nó thì được. Do đó, giới hoa học [vốn nghèo và chẳng có quyền thế] không thể nào tẩy chay Elsevier được, mà phải làm việc với họ để họ thay đổi chính sách cho công bằng hơn.

Việt Nam chưa có những tập san khoa học trong danh mục ISI, nhưng có một số tập san được các nhà xuất bản danh giá như Elsevier và Springer xuất bản. Có tập san mới ra đời nhưng nhờ báo chí nên được nhiều người biết đến, nhưng có tập san ra đời trước mà ít ai biết đến. Chẳng hạn như tập san Vietnam Journal of Computer Science (1) do Springer xuất bản từ năm 2013 (đã được 3 số) mà ít ai biết có lẽ vì tổng biên tập không muốn làm “ồn ào”. Đây là một dự án có sự hỗ trợ của Đại học Nguyễn Tất Thành. Trong tương lai, tôi nghĩ VN cần nhiều tập san như VJCS hay tương tự, tức là hợp tác với các nhà xuất bản có uy tín trong khoa học. Đó cũng là một cách để nâng cao sự hiện diện của khoa học VN trên trường quốc tế.

Qua những gì vừa mô tả, theo tôi, mô hình tốt nhất của VN là các hiệp hội hay trường đại học hay viện nghiên cứu làm chủ quản tập san, chứ không nên để cho nhà xuất bản làm chủ quản. Khi một hiệp hội chuyên môn hay một nhóm bất vụ lợi làm chủ quản, thì việc bổ nhiệm tổng biên tập thuộc về quyền của giới khoa học (tức hiệp hội hay trường) và tôi nghĩ đó là điều hợp lí hơn là để cho nhà xuất bản điều phối. Một lợi thế khác là hiệp hội chuyên môn, qua tổng biên tập, có thể kiểm soát nội dung khoa học của tập san để đảm bảo nó không chệch hướng với chủ trương của hội. Hiệp hội cũng có lợi thế là có thể huy động ban biên tập gặp gỡ mỗi cuối năm để kiểm tra hoạt động của tập san, còn nếu để cho nhà xuất bản thì họ khó huy động được các thành viên trong ban biên tập để có một buổi họp cuối năm. (Điều này tôi có trải nghiệm, vì hơn chục năm làm associate editor cho BMC tôi chưa bao giờ gặp các editor khác, trong khi đó đối với các tập san của hiệp hội năm nào cũng có họp cuối năm để kiểm tra hoạt động biên tập). Vì những lí đo đó, tôi chuộng mô hình hiệp hội hay trường đứng ra làm chủ quản tập san khoa học.

----

(1) Website của Vietnam Journal of Computer Science:http://link.springer.com/journal/40595