Hiển thị các bài đăng có nhãn gian lận khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn gian lận khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

Những chiêu trò gian lận trong xuất bản khoa học

Tuần qua, chúng ta ngạc nhiên về vụ một bài báo có tựa đề "Get me off your fucking mailing list" được International Journal of Advanced Computer Technology xuất bản. Thật ra, bài báo chỉ là một cái thử với nội dung ngu xuẩn nhất trên đời, vì toàn bộ chỉ có những chữ "Get me off your fucking mailing list" lặp đi lặp lại suốt 8 trang! Dĩ nhiên, cái gọi International Journal of Advanced Computer Technology chỉ là một website chuyên làm tiền nhưng đeo mặc nạ "Journal", thuật ngữ trong ngành gọi là "predatory journal", chứ đâu phải tập san khoa học nghiêm chỉnh. Những predatory journal này chỉ lường gạt một số người còn mù mờ ở những nước như VN hay China chứ làm sao lường gạt được dân thứ thiệt trong ngành khoa học máy tính. Cần nói thêm rằng phần lớn các tập san dỏm này xuất phát từ Tàu, Nigeria, Ấn Độ, nhưng đăng kí thì ở ... Mĩ.



Nhưng ngay cả các journal nghiêm chỉnh, những trò lường gạt cũng xảy ra. Hôm nay, nhóm BiomedCentral (BMC) mới gửi một email cho các editor của nhà xuất bản cảnh báo về một chiêu trò lường gạt mới mà BMC đã phát hiện. Tôi là editor của một tập san về xương do BMC quản lí và điều hành, nên cũng nhận lá thư này. Nội dung lá thư nói rằng BMC phát hiện có đến 50 bản thảo bài báo (gọi là manuscript) mà các tập san của BMC nghi ngờ là có sự lừa gạt về qui trình bình duyệt. Đại đa số các bản thảo này bị từ chối công bố, nhưng có 4 bài được qua quá trình bình duyệt và đã công bố!

Sự lừa gạt nằm ở giai đoạn chọn người bình duyệt. Thông thường, khi tác giả đề trình bản thảo cho tập san xem xét công bố, thì tác giả có quyền đề cử 3 người làm bình duyệt bài báo. Một vài tập san còn cho phép tác giả liệt kê những người không nên duyệt bài báo. Các editor của BMC chú ý thấy tên của một số người được đề cử bình duyệt bị viết sai, còn tên trường đại học rất lạ (không có tiếng), và địa chỉ email thì toàn là địa chỉ công cộng chứ không gắn liền với một website chính thức nào. Các chi tiết này còn thay đổi mỗi lần tác giả đệ trình bài báo cho các tập san khác nhau, có lẽ nhằm tránh để bị BMC theo dõi.

Việc lợi dụng quyền đề cử người bình duyệt đã xảy ra trước đây. Trước đây, tôi có viết về một trường hợp hi hữu mà trong đó một phó giáo sư ngành kĩ thuật (engineering) tự đề cử ông là người duyệt bài báo của chính ông. Sự việc "vừa sáng tác, vừa tự nhận xét" này bị phát hiện và ông phải rút lại gần 60 bài báo trong quá khứ, dẫn đến việc từ chức của đồng tác giả lúc đó là Bộ trưởng Bộ Giáo dục! Sau này, người ta phát hiện hàng trăm bài báo từ Tàu và Hàn Quốc cũng do tác giả "vừa sáng tác, vừa tự nhận xét" và được công bố. Dĩ nhiên, sau đó thì tất cả các bài báo gian lận này đều bị rút xuống.

Điều đáng quan ngại là sự lợi dụng này có vẻ có hệ thống. Theo điều tra của tập san Science, ở Tàu họ có hẳn một vài công ti (hay đường dây) chuyên làm thuê cho các nhà khoa học bận rộn. Cách vận hành là nhà khoa học đặt hàng, các công ti phịa ra những nghiên cứu như thật, viết bản thảo bài báo, đệ trình bài báo, và đảm bảo sẽ được công bố dưới tên của nhà khoa học. Lĩnh vực nghiên cứu họ thường tập trung là … meta-analysis (phân tích tổng hợp). Doanh nghiệp loại này làm ăn rất khấm khá, họ lấy phí vài ngàn USD mỗi bài báo. Nhà khoa học chẳng làm gì cả mà vẫn có bài báo và thăng quan tiến chức đều đều. Phải công nhận người Tàu nghĩ ra những chiêu trò lừa gạt rất tinh vi, và điều đáng nể là họ biến thành một hệ thống!

Trong thời gian gần đây, tôi nhận khá nhiều bản thảo meta-analysis nộp cho PLoS. Tất cả bản thảo đều có cấu trúc rất giống nhau, và tựa đề thường theo công thức "A and B: a meta-analysis". Tất cả đều từ Tàu, có bài từ các đại học danh tiếng như Bắc Kinh, Hà Nam, Thanh Hoa, Giao Thông Thượng Hải. Tôi liên lạc với các editor khác và nêu vấn đề, ai cũng rất ngạc nhiên và quan tâm. Nhưng cái khó là tôi không có chứng cứ để nói đây là một "tác phẩm" của các hãng viết mướn. Nhưng tôi không bao giờ chọn người bình duyệt do tác giả đề cử. Sau khi bình duyệt thì phần lớn những bài này bị từ chối công bố vì phẩm chất kém quá, nhưng thú thật tôi vẫn thấy hồi hộp khi gặp mấy bản thảo loại này, nhất là từ Tàu.

Quay lại câu chuyện của BMC, họ thông báo rằng từ nay về sau BMC sẽ không cho tác giả đề cử người bình duyệt nữa. Tôi nghĩ các tập san khoa học khác chắc cũng sẽ theo gót BMC, để giảm tình trạng lợi dụng sự tin tưởng của tập san. Theo tôi biết việc lợi dụng hệ thống bình duyệt như thế chưa bao giờ xảy ra trong các tập san khoa học, vì giới khoa học rất tin tưởng nhau. Nhưng khi các tập san "mở cửa" và sự trỗi dậy của Tàu trong khoa học thì sự tin tưởng đó bị sứt mẻ. Đây là một bài học mà tôi nghĩ không ai muốn nói ra: Mấy anh Tàu thật là lắt léo và chơi với mấy anh Tàu thật là nguy hiểm.


Thứ Hai, 14 tháng 7, 2014

Rút lại 60 bài báo của một tác giả!

Chuyện hi hữu xảy ra với tập san khoa học có tên là Journal of Vibration Control (JVC) do tập đoàn Sage xuất bản (1). Thủ phạm là Chen-Yuan Chen, Phó Giáo sư khoa máy tính, [Đại học] National Pingtung University of Education. Cách lường gạt là ông Chen đệ trình bài báo cho JVC, và vì tập san thường yêu cầu tác giả phải liệt kê 4-6 chuyên gia bình duyệt, nên Chen tạo ra hàng trăm chuyên gia với địa chỉ email (dĩ nhiên là gmail, yahoo, hotmail), và y lấy 4-6 người trong danh sách y có trong tay. Dĩ nhiên, hàng trăm chuyên gia đó chính là Chen-Yuan Chen. Nói cách khác, Chen-Yuan Chen đóng vai chuyên gia bình duyệt cho bài báo của chính mình! Với “chiêu” lừa đó, Chen công bố khá nhiều bài trên JVC.


Năm 2013 Tổng biên tập JVC là Ali H Neyfeh đã nghi ngờ rằng có một mạng chuyên gia bình duyệt ảo tìm cách lợi dụng hệ thống trực tuyến để công bố bài báo khoa học. Phải tốn hơn 1 năm điều tra mới ra ngọn ngành. Thế là JVC rút lại tất cả 60 bài báo! Nhìn qua danh sách thì phần lớn bài báo bị rút lại là từ Chen-Yuan Chen, nhưng cũng có tác giả khác. Điều này cho thấy Chen-Yuan Chen không chỉ “hoạt động” một mình, mà còn một nhóm có thể là quen biết và đồng chí của Chen-Yuan Chen cũng dính dáng. Hiện nay thì Chen-Yuan Chen đã bị đuổi việc, và ông thì trốn luôn, chẳng ai liên lạc được!

Thật ra, chiêu lừa bằng cách tự mình bình duyệt bài của mình không mới. Vài năm trước một nhóm bên China từng áp dụng hình thức này và cũng công bố hàng chục bài. Nhưng sự việc cũng bị phát hiện và tất cả các bài đều bị rút lại. Năm 2012, một nhà khoa học Hàn Quốc cũng qua “chiêu” tạo ra nhiều email để tự mình bình duyệt bài báo của mình, và cũng công bố hàng chục bài, nhưng sau này tất cả đều bị rút lại.

Tập san JVC có impact factor 1.966, chẳng biết trong chuyên ngành IF như thế là thấp hay cao, nhưng một tập san công bố hàng 40 bài của một tác giả trong vòng 3-4 năm thì hơi bất bình thường. Sự việc xảy ra một lần nữa cho thấy hệ thống bình duyệt online tuy rất tiện, nhưng cũng là cơ hội cho những kẻ gian lận có thể xâm nhập và phá hoại. Nhưng nói gì thì nói, khoa học có khả năng tự điều trị và tự sửa, nên những sai sót đều được chỉnh sửa.

----

(1) http://www.nytimes.com/2014/07/11/science/science-journal-pulls-60-papers-in-peer-review-fraud.html?_r=1

Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

Những chuyện khó tin trong nghiên cứu khoa học ở VN

Tôi có may mắn được tiếp xúc với nhiều tập san khoa học, bạn bè và đồng nghiệp trong nước từ Nam chí Bắc. Qua những tiếp xúc đó, tôi biết được vài chuyện (không dám nói tất cả) rất … khó tin. Khó tin nhưng hoàn toàn có thật. Những chuyện này ảnh hưởng đến cái mà tiếng Anh gọi là “credibility” của khoa học nước nhà.


Chuyện thứ nhất là công bố thật nhiều. Hôm cuối năm 2013, tôi được một đồng nghiệp ân cần tặng một số đặc biệt của một tạp chí y học do một trường y xuất bản. Tôi không chú ý lắm, vì thú thật lần nào về cũng có nhiều bạn tặng tạp chí như thế, nhưng lần này thì anh bạn rất ân cần muốn tôi cho ý kiến. Đêm về khách sạn, mở tạp chí ra đọc thấy có một tác giả đăng một mạch 5 bài trong số đặc biệt của tạp chí đó [1]. Tất cả 5 bài tác giả đứng tên duy nhất. Trong số đó, 4 bài là tường thuật những ca lâm sàng, và 1 bài là thuộc dạng clinical audit – giống như đếm các đặc điểm những ca lâm sàng ghi nhận trong một thời gian. Những ca này tôi không dám nói hay hay dở vì không phải là người có cùng chuyên ngành, nhưng tôi có thể nói là quá đơn giản. Tất cả không thể xem là “research” được. Những ca lâm sàng được công bố trên các tập san y khoa quốc tế có uy tín thường rất thú vị, xét nghiệm rất nhiều, và luôn luôn có những thông điệp quan trọng. Có những ca lâm sàng dẫn đến khám phá quan trọng như gen LRP5 trong ngành xương [2]. Nhưng thử tưởng tượng, một tạp chí công bố một loạt 5 bài của một tác giả! Đó là một điều bất bình thường, ngay cả với tạp chí phổ thông dành cho đại chúng [3]. Sau này, anh bạn tôi mới cho biết rằng đó là số đặc biệt dành cho tác giả, người lúc đó đang làm hồ sơ để được phong chức danh giáo sư / phó giáo sư. Không biết kết quả phong chức danh ra sao, nhưng tôi nghĩ cách làm việc như thế rất lạ lùng và nó hoàn toàn không giống một qui tắc nào trong xuất bản khoa học.  

Chuyện thứ hai là bán dữ liệu. Trong khoa học, dữ liệu có giá trị như vàng. Nói cho cùng tất cả nỗ lực từ thiết kế đến đo lường và chi tiêu tiền bạc cũng chỉ để thu thập dữ liệu. Khi nói “dữ liệu” tôi không chỉ nói đến số liệu, mà còn là hình ảnh và sinh phẩm, mẫu máu, mẫu DNA, v.v. liên quan đến công trình nghiên cứu. Vì lí do y đức, dữ liệu gốc phải được bảo mật rất kĩ, thường phải để trong tủ sắt và chỉ có người có trách nhiệm mới được tiếp cận. Nhưng dữ liệu có khi được chia sẻ giữa các nhà nghiên cứu khi có đề tài mới. Một nguồn dữ liệu tốt có thể khai thác vài chục năm là chuyện bình thường.  Chính vì thế mà dữ liệu được xem là vàng. Ấy thế mà ở VN người ta không quí dữ liệu. Có nhiều người làm xong nghiên cứu, hỏi họ dữ liệu ở đâu, họ nói tỉnh queo rằng đã vứt bỏ rồi!  Họ nói như là không có gì xảy ra. Nhưng vứt bỏ dữ liệu sau nghiên cứu có thể xem là “tội phạm”. Nhưng nghiêm trọng hơn có người còn bán dữ liệu cho người nước ngoài. Họ không thấy dữ liệu là quí hay không biết làm gì với dữ liệu, nên họ … bán (khi có nhu cầu và người mua). Việc bán dữ liệu như thế là vi phạm đạo đức khoa học một cách nghiêm trọng. Người mua cũng vi phạm y đức. Những công trình như thế không nên cho công bố trên các tập san khoa học.

Chuyện thứ ba là giả tạo dữ liệu. Đã lâu lắm rồi, khi tôi còn quan tâm đến vụ chất độc da cam (gọi tắt là AO – Agent Orange), có một số em sinh viên từng tham gia đoàn khảo sát về nhiễm AO ở miền Trung nói cho nghe những chuyện [mà lúc đó] tôi không tin. Các em đó nói rằng tham gia đoàn công tác khảo sát vui lắm, ban ngày chẳng tìm được ai là nạn nhân AO, nên chẳng thu thập được dữ liệu nào cả, thế là đêm về khách sạn các em phịa ra dữ liệu bằng cách điền vào bộ câu hỏi! Các em kể chuyện một cách vô tư và có phần vui vẻ, làm như là đắc thắng về sáng kiến của mình. Lúc đó tôi nghĩ họ chỉ nói cho vui, chứ không tin có chuyện động trời như thế, nhưng sau này thì có nhiều người xác định đó là điều có thể xảy ra. Sau này càng ngày càng hiểu, tôi biết trường hợp đó chỉ là một trong biết bao trường hợp giả tạo dữ liệu trong khoa học. Bởi vì các em biết mình đi làm với mục đích gì, và để làm vui lòng thầy cô hay cấp trên của thầy cô, các em có thể giả tạo dữ liệu sao cho khi phân tích thì kết quả sẽ rất “đẹp”, hiểu theo nghĩa đúng với ý định của thầy cô. 

Chuyện thứ tư là những kết quả nghiên cứu “đẹp” một cách bất thường. Trong khoa học thực nghiệm, không bao giờ có những dữ liệu trơn tru hay đúng với giả thuyết của mình, và nếu có thì đó là điều đáng nghi ngờ. Do đó, bất cứ kết quả nào quá đẹp người ta đều nghi ngờ là “too good to be true”. Có lần ngồi nói chuyện với một đồng nghiệp Mĩ cũng quan tâm và có nghiên cứu về AO, anh ta nói (và tôi diễn giải nôm na): “Eh mày, tao rất ngạc nhiên là tất cả các báo cáo nghiên cứu của đồng nghiệp VN đều cho ra một kết quả nhất quán là AO có hại cho đủ thứ bệnh; tụi tao làm bao nhiêu năm nay và dùng máy Spect đo lường dioxin rất tinh vi, mà trầy trật, lúc phát hiện +ve, lúc phát hiện –ve, lúc chẳng có gì. Tao khâm phục tụi nó”.  Tôi biết và hiểu hắn nói gì, thậm chí còn biết câu thứ hai hắn sắp thốt ra là gì!  Tôi suy nghĩ vài giây rồi giải thích: Tao nghĩ chắc vì tụi nó nghiên cứu ở môi trường mà độ phơi nhiễm cao nên dễ phát hiện mối liên quan, còn mày là thằng đi rải độc chất, có phơi nhiễm gì đâu, nên tụi mày khó phát hiện là đúng rồi. Tay đồng nghiệp Mĩ nhìn tôi mỉm cười (như thầm nói gì đó) và nhún vai nói: có lí! Thật ra, tôi chưa chắc tin những gì tôi nói :-), nhưng vì danh dự VN nên phải giải thích cho vui. Nhưng khi hàng chục nghiên cứu cho ra một kết quả nhất quán thì điều đó có thể là sự thật, nhưng cũng có thể là sai sót gì đó trong phương pháp, hoặc giả tạo dữ liệu. 

Chuyện thứ năm là vặn vẹo dữ liệu. Có những trường hợp vặn vẹo dữ liệu sau khi đã thu thập xong. Đó là trường hợp một anh bác sĩ sau khi đã thu thập xong dữ liệu, và tiến hành phân tích. Nhưng khổ thay, kết quả phân tích cho thấy không như người hướng dẫn nghĩ. (Dĩ nhiên, những gì người hướng dẫn nghĩ chưa chắc đã đúng). Thế là người hướng dẫn đề nghị anh bác sĩ “sửa vài con số” để sao cho kết quả giống như anh ta nghĩ trong đầu.  Khi ra trình bày thì đồng nghiệp chỉ thấy ấn tượng với những bảng biểu, đồ thị hoành tráng, chứ đâu ai biết sự thật đằng sau. Anh bác sĩ này đáng quí ở chỗ là anh cảm thầy dằn dặt vì chuyện làm bậy, nên anh quyết định bỏ cuộc nghiên cứu. Anh ta trở nên chán chường và nghi ngờ tất cả những dữ liệu nghiên cứu của đồng nghiệp khác. 

Chuyện thứ sáu là gây áp lực để đứng tên tác giả bài báo. Trong hoạt động khoa học, đứng tên tác giả bài báo là một trách nhiệm nghiêm chỉnh. Người đứng tên tác giả phải đáp ứng các tiêu chuẩn mà cộng đồng khoa học đã đồng ý và tuân theo.  Nói ngắn gọn, người đứng tên tác giả bài báo phải là người có đóng góp tri thức và phương pháp trong công trình nghiên cứu, kể cả soạn bài báo.  Bộ tiêu chuẩn tác giả ghi rõ nếu là giám đốc hay đứng đầu nhóm nghiên cứu, hay người có công xin tài trợ, mà không đáp ứng các tiêu chuẩn chính thì vẫn không có tư cách đứng tên tác giả bài báo khoa học.  Thế nhưng ở VN làm sếp lại là tiêu chuẩn quan trọng để đứng tên tác giả, dù đương sự chẳng có đóng góp gì cho bài báo. Có người thậm chí còn không biết bài báo phản ảnh điều gì và công bố ở đâu.  Có lần tôi tiếp nhận lí lịch khoa học của một vị có gần 80 bài báo khoa học, nhưng toàn là đứng tên trong danh sách tác giả như là “foot soldier” (lính đánh bộ), và tôi ngạc nhiên lắm. Nhưng sau này thì rõ ràng là tác giả chỉ là honorary author – tác giả danh dự (vì là giám đốc bệnh viện) chứ không có thực sự làm nghiên cứu. Nhiều nghiên cứu từ bệnh viện này cười nói ai mà không đề tên bác ấy vào danh sách tác giả thì lần sau đừng nghĩ đến chuyện thu thập dữ liệu từ bệnh viện do bác ấy làm giám đốc. Tuy nhiên, theo tôi biết đây là trường hợp thiểu số, vì nhiều giám đốc bệnh viện ở VN không quan tâm đến việc đứng tên tác giả bài báo. 

Chuyện thứ bảy là gian dối trong cách đề tên tác giả. Một lần khác ở Chợ Rẫy, tôi nghe được một câu chuyện mà chẳng biết nói sao.  Sau khi tôi nói xong bài nói chuyện, có vài câu hỏi cũng thú vị, rồi đến một anh đứng lên phát biểu chứ không hỏi. Anh nói rằng ở VN có những người cố tình gian trá về cách ghi tên tác giả trong hồ sơ xét phong chức danh GS/PGS. Bởi vì theo qui định, một bài báo có n tác giả thì số điểm được tính cho ứng viên là k/n điểm (trong đó k là điểm chung cho bài báo). Do đó, để nâng cao điểm cho mình, ứng viên chỉ cần ghi danh sách tác giả bài báo theo công thức “ứng viên và cộng sự” thì điểm sẽ là k/2 [4]. Tôi thật sự không biết nói gì sau khi anh ấy nói xong, vì nói gì thì cũng đụng chạm [có khi là] bạn bè.  Thoạt đầu mới nghe qua, tôi thấy khó tin là vì chẳng lẽ hội đồng chức danh không xem xét bài báo gốc để biết bao nhiêu tác giả!  Nhưng nhiều người cho biết mánh khoé đó có thật!  Câu chuyện nói lên một sự gian dối quá thấp. Biết rằng gian dối là thấp, nhưng gian dối kiểu như thế trước một hội đồng gồm những người có học và còn qua được thì nó cũng nói lên khả năng của hội đồng. 

Chuyện thứ tám là chủ nghĩa bình quân trong cách tính điểm bài báo. Thật ra, việc định lượng hay tính điểm bài báo khoa học đã là một việc rất khó làm và theo tôi biết không có đại học nào làm cả. Nhưng ở VN, các hội đồng chức danh GS/PGS bằng cách nào đó qui định rằng bài báo trên tập san A là 2 điểm, bài báo trên tập san B là 1 điểm, v.v. Nhưng điều còn lạ lùng hơn nữa là họ có qui định rằng bài báo công bố trên tập san nước ngoài có cùng điểm với tập san A ở trong nước! Chúng ta biết rằng đại đa số (có lẽ là 99.9%) các tập san khoa học trong nước không nằm trong danh mục ISI, và không có impact factor. Do đó, đánh đồng một bài báo trong nước với một công trình trên một tập san danh tiếng ở nước ngoài là điều cực kì vô lí. Ngay cả ở nước ngoài, hay cụ thể là ở Úc, không ai điên rồ đến nỗi đánh giá một bài báo trên tập san Medical Journal of Australia tương đương với một bài trên tờ The Lancet!  Nhưng trong thực tế thì sự vô lí đó tồn tại qua nhiều năm và vẫn tồn tại: một bài báo trên tạp chí y học của Bộ có điểm y chang như một bài báo trên tập san New England Journal of Medicine!   
Chuyện thứ chín là đạo văn.  Hai năm trước, khi có dịp ghé thăm và giảng tại một trường y, một đồng nhiệp tặng tôi một số đặc biệt của tạp chí y học của trường. Số này công bố hoàn toàn bằng tiếng Anh, với gần 1000 trang. Nhìn bề ngoài rất “hoành tráng”. Trong lòng thì tôi thật sự mừng vì nghĩ rằng hoá ra có nơi đã ra tập san bằng tiếng Anh, và đó là một dấu hiệu tích cực. Nhưng đêm đó, về khách sạn, tôi đọc qua nhiều bài mình quan tâm, thì thấy có rất nhiều vấn đề về chất lượng.  Tiếng Anh cũng còn rất …. Việt Nam, có quá nhiều sai sót.  Trong những bài như thế, tôi đặc biệt đến một bài mà đoạn mở đầu (introduction) được viết với văn phong rất smooth (trôi chảy), có chất thơ và cái air báo chí, nhưng đến đoạn phương pháp và kết quả thì có nhiều sai sót về văn phạm, cách dùng từ, cách diễn tả, v.v.  Chỉ cần một phút trên mạng, tôi thấy đoạn văn đó được trích từ một website về bệnh mà bài báo quan tâm.  Website đó dành cho đại chúng, nên văn phong có cái air báo chí.  Tôi có báo cho anh bạn biết, và đề nghị không làm lớn chuyện làm gì, chỉ cần báo cho anh ấy biết và khuyên không nên làm như thế nữa. 

Một lần khác (năm ngoái) tôi gặp một trường hợp khá hi hữu. Số là một anh bác sĩ gửi tặng tôi luận án của anh ấy như là một lời cám ơn vì tôi có giúp anh chút việc trong khi học. Tôi đọc đến đoạn mô tả về một hormone (khoảng 1.5 trang) mà tôi thấy giọng văn rất … quen.  Quen nhưng nghĩ hoài không ra đã thấy ở đâu.  Ngày hôm sau tôi chợt nhớ đó là đoạn văn … của tôi!  Đó là bài tôi viết cho báo Tuổi Trẻ.  Vì viết cho Tuổi Trẻ nên tôi không dùng những thuật ngữ, và giọng văn có phần bình dân.  Kiểm tra lại thì đúng là nguyên đoạn văn từ bài viết đó, và anh ấy đã sao chép nguyên văn.  Lúc đó, tôi ở vị thế lúng túng, không biết làm gì cho hợp lí.  Tôi chỉ viết email cám ơn anh ấy và có nói nhẹ rằng anh nên cố gắng dùng cách diễn giải của mình và nên viết văn cho khoa học hơn.  Nhưng tôi nghĩ anh ấy không hiểu tôi nói gì.  

Chuyện thứ mười là qui định lạ lùng về công bố nghiên cứu. Ai cũng biết rằng trước khi bảo vệ luận án, thí sinh thường phải công bố kết quả nghiên cứu. Ở vài nước, đặc biệt là Bắc Âu, luận án tiến sĩ trong thực tế là tập hợp những bài báo đã công bố cộng với hai chương dẫn nhập và bàn luận. Công bố kết quả nghiên cứu trước khi bảo vệ luận án là qui trình chuẩn.  Ấy thế mà ở VN có đại học qui định rằng thí sinh không được công bố kết quả nghiên cứu trước khi bảo vệ luận án!  Thoạt đầu nghe qua qui định này tôi không tin, vì nghĩ chắc là có hiểu lầm đâu đó, nhưng sau này có dịp tìm hiểu và đọc được email tôi mới biết là có qui định lạ lùng, nếu không muốn nói là “ngược đời” như thế. Thật không hiểu nổi tại sao ban giám hiệu lại để cho một qui định như thế hiện hữu trong đại học. 

Những câu chuyện trên đây (dĩ nhiên là chưa đầy đủ) phản ảnh một “văn hoá khoa học” – nếu có thể dùng cụm từ đó – nhếch nhác.  Thật ra, đứng trên quan điểm đạo đức khoa học, những câu chuyện trên đây cũng phản ảnh sự gian dối trong khoa học rất nghiêm trọng. Dĩ nhiên, những gian dối này không chỉ xảy ra ở VN, mà còn thỉnh thoảng xảy ra ở các nước tiên tiến. Không ai biết qui mô gian lận khoa học ở VN cỡ nào, nhưng những câu chuyện đạo văn đình đám trên báo cho người ta cảm giác vấn đề khá phổ biến. Một số đại học VN có tham vọng được đứng tên trong danh sách “Top 500” hay “Top 200”, hay muốn trở thành đại học đẳng cấp quốc tế. Thậm chí có một doanh nghiệp Nhà nước và một đại học còn kí kết hợp đồng để trường có giải Nobel trong tương lai!  Nhưng với sự nhếch nhác như mô tả trên tôi nghĩ giấc mơ đẳng cấp quốc tế sẽ chỉ là giấc mơ dài.  

====

[1] Rất hiếm có tập san khoa học nào công bố nhiều bài của cùng một tác giả trong cùng một số. Ở nước ngoài, ít ai có thể công bố 5 bài mỗi năm, vì thời gian viết mỗi bài cũng vài tháng trời, rồi chờ bình duyệt và chỉnh sửa, làm thêm, nên rất khó công bố nhiều được. 
[2] Ca này là một tai nạn xe hơi nặng mà không bị gãy xương nào cả, và tôi từng đề cập trước đây.
[3] Ngày xưa khi tạp chí TS đăng 2 bài của tôi trong cùng một số, họ phải đổi tên tôi thành một cái bút danh mà họ phịa ra!
[4] Thật ra, chuyện cho điểm đã là vô lí. Làm sao định lượng điểm cho một bài báo, dựa vào tiêu chí gì, ai đặt ra những tiêu chí đó, v.v.  Hàng loạt câu hỏi không có câu trả lời. Việc chia điểm đều cho đồng tác giả càng vô lí, vì làm sao hội đồng biết được ai có công gì trong bài báo. Nói chung, qui trình cho điểm bài báo khoa học là hết sức phản khoa học.

Lâu đài khoa học xây trên cát

Giáo sư Alan Sokal, một nhà vật lí học có tên tuổi, nhưng ông nổi tiếng trên thế giới vì đã “sáng tác” một bài báo phản khoa học để chứng minh rằng một tập san khoa học có tiếng về văn hoá xã hội, tự mệnh danh hậu hiện đại (postmodernism) là … dỏm. Năm nay, ông ấy lại gây sóng gió với một bài báo mới trên tập san The American Psychologist, trong đó ông và một sinh viên chỉ ra rằng một hằng số về cảm xúc rất phổ biến trong tâm lí học là dỏm, rác rưởi, và ngụy tạo bởi toán học chứ chẳng có dữ liệu khoa học nào cả. Phát hiện này làm thế giới tâm lí học xôn xao.


Để cảm nhận được câu chuyện có lẽ chúng ta phải điểm qua vài ý chính đằng sau khái niệm cảm xúc. Bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có cảm xúc, và giới tâm lí học chia làm 2 loại cảm xúc: cảm xúc tích cực (positive emotion, tạm kí hiệu là P) và cảm xúc tiêu cực (negative emotion, N). Cảm xúc tích cực có thể là niềm hân hoan, thanh thản, biết ơn người khác, yêu thương, quan tâm đến người khác, có hi vọng, tự hào, vui vẻ hạnh phúc, truyền cảm hứng, v.v. Cảm xúc tiêu cực có thể bao gồm các trạng thái như hung hãn, nổi giận, lo lắng, buồn rầu, cay đắng, hỗn loạn, du côn, lạnh lùng, chán chường, v.v. Hai loại cảm xúc này có thể tổng hợp thành một chỉ số có thể phản ảnh cảm xúc chung của một cá nhân.

Chỉ số đó có tên là “critical positive ratio” (CPR – tạm dịch là tỉ số cảm xúc tích cực). CPR được tính bằng cách lấy cảm xúc tích cực chia cho cảm xúc tiêu cực, tức P/N. Theo giáo sư Barbara Fredrickson và Marcial Losada, khi tỉ số P/N cao hơn một ngưỡng x thì chúng ta sẽ hưng phát, nhưng nếu tỉ số đó thấp hơn ngưỡng x, thì chúng ta sẽ hao mòn. Trong một nghiên cứu nổi tiếng (1), họ ước tính được rằng x = 2.9013. Và, đó là một hằng số rất nổi tiếng. Hằng số đó được đưa vào các bài giảng về tâm lí học cho sinh viên. Bài báo được trích dẫn gần 1000 lần, và khái niệm CPR được Fredrickson viết thành sách. Sách giáo khoa tâm lí học cũng đề cập đến con số đó như là một khám phá tuyệt vời. Gs Fredrickson trở thành “icon” trong thế giới tâm lí học và hiện nay là phó tổng biên tập của tập san American Psychologist.

Hằng số 2.9013 tồn tại gần 20 năm mà chẳng ai chất vấn nó. Có lẽ một phần là chẳng ai hiểu phương pháp thống kê đằng sau hằng số đó. Chính Gs Fredrickson cũng thú nhận rằng bà không hiểu hằng số đó được tính toán như thế nào; bà nói bà tin vào đồng tác giả là Ts Losada (người Brazil) là một chuyên gia tư vấn về quản trị kinh doanh và được xem là một chuyên gia về “non-linear dynamics”. Ai cũng nghĩ đó là một hằng số được tính toán từ một nghiên cứu mà họ mô tả, và với uy tín quá cao của Gs Fredrickson, ai cũng xem con số 2.9013 đó như là một hằng số huyền diệu! (Làm như là hằng số mà “thượng đế” đã ban cho nhân loại).

Nhưng một sinh viên cao học người Anh tên là Nick Brown chú ý đến hằng số đó trong một bài giảng mà ông ta được nghe. Ông ngạc nhiên về độ chính xác đến 4 số lẻ, và muốn tìm hiểu xem họ tính toán như thế nào. Khi ông đọc bài báo gốc (1) thì ông chẳng thấy dữ liệu đâu cả, mà chỉ thấy một biểu đồ hình bướm, giống như là một mô hình toán học. Ông nghi ngờ có sự giả tạo dữ liệu ở đây. Nhưng vì ông mới là sinh viên cao học, chưa có kinh nghiệm nghiên cứu, nên ông cần phải hỏi ý kiến của một chuyên gia giỏi toán. Ông Brown nghĩ đến Gs Alan Sokal, một nhà vật lí lừng danh và được xem là giỏi toán. Gs Sokal còn được mệnh danh là một "khắc tinh" của khoa học dỏm, do trước đây ông từng phơi bày sự thật về chủ nghĩa hậu hiện đại (còn gọi là vụ Sokal's Affairs) qua một bài báo nổi tiếng trên tập san Social Text. Thế là Brown liên lạc Gs Sokal để tư vấn.

Trong email đầu tiên, Gs Sokal không trả lời vì ông không quan tâm đến tâm lí học và nhất là email từ một sinh viên cao học. Nhưng khi ông Brown liên lạc lần hai và nhắc lại email cũ, thì Gs Sokal mới bắt đầu chú ý. Ông tìm đọc bài báo của Fredrickson & Losada, và khi đọc xong ông có thể nói ngay rằng đây là một sai lầm cơ bản về toán chứ chẳng có dữ liệu thực nghiệm nào cả. Sokal nhận ra rằng phương pháp phân tích mà Fredrickson & Losada sử dụng là hệ phương trình Lorenz (do Edward Lorenz, một chuyên gia về lí thuyết hỗn nguyên - chaos theory, phát triển vào thập niên 1960s), và chỉ trong vòng 10 giây, ông nhận ra đây là một “total bullshit”. Phương trình Lorenz có 3 tham số, và mỗi tham số có thể là bất cứ con số nào. Do đó, có rất nhiều phương trình Lorenz. Hóa ra, Losada dùng 2 tham số của một nhà địa chất học dùng vào năm 1962, rồi điều chỉnh tham số thứ 3 để có một loạt biểu đồ hình bướm. Nói tóm lại, hằng số 2.9013 mà Fredrickson và Losada báo cáo chỉ là một sáng tác từ toán học dựa trên phương trình Lorenz chứ chẳng dựa trên dữ liệu thực nghiệm nào cả.

Biểu đồ hình bướm rất "ấn tượng" của Losada

Thế là Alan Sokal và Nick Brown viết một bài báo (2) chỉ ra những sai sót trong phân tích của Fredrickson và Losada. Bài báo mở đầu bằng câu “We find no theoretical or empirical justification for the use of differential equations drawn from fluid dynamics, a subfield of physics, to describe changes in human emotions over time; furthermore, we demonstrate that the purported application of these equations contains numerous fundamental conceptual and mathematical errors. The lack of relevance of these equations and their incorrect application lead us to conclude that Fredrickson and Losada's claim to have demonstrated the existence of a critical minimum positivity ratio of 2.9013 is entirely unfounded.” (Tạm dịch: Chúng tôi không tìm thấy một cơ sở lí thuyết hay thực nghiệm nào cho việc sử dụng các phương trình vi phân vốn được phát triển từ nghiên cứu thủy động lực (một lĩnh vực của vật lí) để mô tả những biến chuyển về cảm xúc của con người; ngoài ra, chúng tôi chứng minh rằng việc áp dụng các phương trình vi phân đó hàm chứa nhiều sai lầm cơ bản về khái niệm và toán học. Từ những sai lầm trong việc áp dụng phương trình một cách không thích hợp, chúng tôi đi đến kết luận: phát biểu của Fredrickson và Losada [rằng họ đã chứng minh sự hiện hữu của một tỉ số tích cực tối thiệu 2.9013] là hoàn toàn không có cơ sở.) Trong bài báo, nhóm tác giả giải thích thế nào là phương trình Lorenz và ứng dụng ra sao, rồi chỉ ra những sai lầm cơ bản trong bài báo của Fredrickson và Losada.

Khi Tập san American Psychologist cho Fredrickson và Losada cơ hội hồi đáp, thì Fredrickson (là phó tổng biên tập của tập san) thú nhận rằng bà chẳng biết gì về toán và không hiểu phương trình Lorenz, bà chỉ trông chờ vào chuyên môn của Losada, nhưng Losada thì … im hơi lặng tiếng. Nhưng trong một email trả lời ban biên tập, Losada nói rằng ông bận nên không quan tâm trả lời! Nói tóm lại, cả hai tác giả không giải thích được tại sao họ đi đến hằng số huyền thoại đó. Trước tình trạng này, nhiều người đề nghị Fredrickson và Losada nên rút lại bài báo. Tin mới nhất cho biết The American Psychologist đã đồng ý rút một phần bài báo. Thế là một giả thuyết (lí thuyết?) tâm lí học bị đánh đổ và đi vào lịch sử khoa học như là một huyền thoại.

Câu chuyện trên có nhiều ý nghĩa về nghiên cứu khoa học hiện đại. Những vấn đề đáng bàn là vai trò và trách nhiệm của tác giả trước công chúng và cộng đồng khoa học, nguồn gốc dữ liệu, phương pháp và ứng dụng toán học trong nghiên cứu khoa học, và có lẽ quan trọng hơn hết là đạo đức khoa học. Đứng tên tác giả một bài báo khoa học phải có trách nhiệm với công chúng chứ không chỉ với cộng đồng khoa học, và khi có người chất vấn thì tất cả các tác giả có trách nhiệm hồi đáp. Một khi bài báo công bố, tất cả dữ liệu gốc cần phải được lưu giữ ít nhất là 5 năm để các giới chức hữu trách hay cộng đồng khoa học khi cần thiết vẫn có thể truy cập được.  Qua vụ này, có thể thấy rằng toán học chỉ là một công cụ, và nếu công cụ đó được áp dụng không đúng thì sẽ dẫn đến những hệ quả hết sức nghiêm trọng. Việc ứng dụng toán trong khoa học đòi hỏi người ứng dụng không chỉ am hiểu vấn đề chuyên môn mà còn am hiểu phương pháp toán. Đó cũng chính là những nét văn hoá khoa học.

Lí thuyết cảm xúc tích cực đã làm cho Fredrickson nổi tiếng khắp thế giới và bà nhận nhiều giải thưởng cũng như chức danh quan trọng. Nhưng nay thì chúng ta biết rằng lâu đài khoa học của bà được xây dựng trên cát.  
----
(1) Fredrickson BL, Losada MF. Positive Affect and the Complex Dynamics of Human Flourishing. American Psychologist 2005; 60:678–686.  
(2) Brown NJ, Sokal AD, Friedman HL. The complex dynamics of wishful thinking: the critical positive ratio. American Psychologist 2003;68(9) 801-813. Có thể đọc nguyên bản tại đây:http://arxiv.org/abs/1307.7006.