Hiển thị các bài đăng có nhãn Biển Đông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Biển Đông. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

Giới trẻ Việt Nam tin blog hơn tin Nhà nước

Công ti Gallup mới công bố một kết quả khảo sát (hay cũng có thể xem là trưng cầu dân ý) ở VN rất thú vị. Gần 60% người Việt cho rằng các trang blog cá nhân đáng tin cậy hơn là các cơ quan truyền thông của Nhà nước (1). Ngoài ra, Biển Đông là vấn đề được giới trẻ VN quan tâm nhất, và 60% giới trẻ đồng ý rằng các nước phương Tây nên giúp VN giải quyết vấn đề Biển Đông.


Cuộc khảo sát được thực hiện trong thời gian 1/2015 đến 3/2015 trên 3000 người tuổi 15 trở lên, và họ được chọn ngẫu nhiên từ 63 tỉnh thành. Tỉ lệ người tham gia (response rate) là 71%.

Khi được hỏi hiện nay đời sống có khá hơn trước đây hay không, thì 64% trả lời là khá hơn. Tỉ lệ “khá hơn” ở người trẻ (15 – 34 tuổi) là 73%. Tuy nhiên, nghèo đói vẫn còn là một mối đe doạ. Trong 12 tháng qua, có 28% cho biết họ không có đủ tiền để mua thực phẩm. Tỉ lệ người không đủ tiền mua thực phẩm ở vùng quê lên đến gần 1/3.

Gần 98% hộ gia đình sở hữu TV, và 93% có điện thoại di động. Một phần ba hộ gia đình có máy tính, và tỉ lệ nối mạng là 43%. Khoảng 6% hộ gia đình có iPad hay máy tính bảng.

Với tỉ lệ sở hữu TV, không ngạc nhiên khi thấy 97% hộ gia đình thu nhận tin tức từ TV, chủ yếu là VTV. Tuy nhiên, gần 40% hộ gia đình cho biết họ đọc tin tức trên mạng. Khoảng 79% giới trẻ (15-24 tuổi) truy cập mạng trong tuần qua, và họ truy cập Google (71%), Facebook (73%), và Youtube (60%).

Ở giới trẻ, khi được hỏi 3 vấn đề họ quan tâm nhất hiện nay là gì thì trả lời là:

(a) Tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với Tàu cộng: 17%
(b) Vấn đề môi trường và môi sinh: 12%
(c) Tội phạm: 10%

Ngoài ra, các vấn đề nổi cộm khác cũng được quan tâm là giáo dục (9%) và thất nghiệp (8%). Chỉ có 2% quan tâm đến tham nhũng!

Khi được hỏi bạn có đồng ý với ý kiến rằng “Các quốc gia phương Tây nên giúp đỡ giải quyết vấn đề Biển Đông” thì 60% đồng ý. Ngoài ra, có 30% người được hỏi nghĩ rằng sự trỗ dậy về kinh tế của Tàu cộng là không tốt cho kinh tế vùng Đông Nam Á.
Nhưng thú vị nhất là khi được hỏi “các trang blog cá nhân đáng tin tưởng hơn các bản tin chính thống” thì 60% người trẻ đồng ý. Khoảng 38% những người trẻ này cũng nghĩ rằng thông tin của các cơ quan thông tấn nước ngoài về VN là không đáng tin cậy. Phần lớn (73%) người trẻ ở VN nghĩ rằng giới truyền thông VN nên trình bày đất nước và con người Việt tích cực hơn.

Tóm lại, các kết quả khảo sát trên đây cho thấy đại đa số người Việt sở hữu TV, và đa số giới trẻ sở hữu điện thoại di động và có truy cập internet. Nhưng dù VTV là nguồn tin chính của người dân, có đến 60% tin vào các trang blog cá nhân hơn là nguồn tính chính thống của Nhà nước. Dù Biển Đông là vấn đề nóng đối với giới trẻ, nhưng chưa đầy 20% quan tâm! Giới trẻ VN có vẻ thụ động khi họ đồng ý để vấn đề Biển Đông cho nước ngoài giải quyết (nhưng đây có lẽ chưa phải là kết quả tốt vì cách đặt câu hỏi mang tính “nhét chữ vào miệng”).

===


Bản báo cáo PowerPoint có thể download từ đây:

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

Những chuyện cũ [thêm] đau lòng lắm người ơi

Xin mượn một câu nhạc [sến] cũ để nói lên cảm tưởng nhân đọc vài thông tin chung quanh buổi hội thảo kỉ niệm 100 năm ngày sinh của học giả Nguyễn Đổng Chi. Thật ra, chỉ có hai chuyện thôi. Một chuyện liên quan đến tờ "giấy thông hành" của học giả, và một chuyện liên quan đến … Biển Đông.


Tuần vừa qua, ở Sài Gòn diễn ra một buổi hội thảo do Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học TPHCM, Tập đoàn Truyền thông Thanh Niên và NXB Trẻ đồng tổ chức (1). Đó là một việc làm đẹp và có ý nghĩa. Ông Nguyễn Đổng Chi, với cá nhân tôi, là một học giả nổi tiếng thời còn đi học. Gia đình tôi có một bộ sách do Ba tôi sưu tầm. Bộ sách gồm nhiều truyện Tàu như Tam Quốc Chí, Thuỷ Hử, Hán Sở Tranh Hùng, v.v.. Đặc biệt là cuốn Kho Tàng Truyện Cổ Tích của Nguyễn Đổng Chi. Có thể nói tôi lớn lên với những truyện trong cuốn đó. Ngày ngày đi học về, tôi ngấu nghiến đọc những truyện trong đó và tha hồ .. tưởng tượng. Ôi, một thời thiếu niên thật thần tiên với những truyện con sam, sự tích cái chổi, ông bình vôi, cái chân con chó, v.v. Văn chương giản dị, nhân cách hoá sự vật làm cho mình rất gần với sự vật, cộng với minh hoạ (chỉ vẽ tay) làm cho cuốn sách là một cuốn không thể thiếu được trong tủ sách gia đình.

Vậy mà sau này tôi lại có duyên với gia đình ông. Chẳng nhớ cơ duyên nào mà tôi quen anh Nguyễn Huệ Chi. Nhớ hôm ghé thăm nhà anh Huệ Chi, tôi thấy ấn tượng ngay cái thư viện của ông, và đặc biệt nhiều sách và kỉ vật liên quan đến cụ Đổng Chi. Hỏi ra mới biết anh chính là con trai của ông cụ Đổng Chi! Qua sách báo, tôi loáng thoáng biết rằng trong thời Nhân văn Giai phẩm, ông cụ Đổng Chi cũng bị lọt vào dòng xoáy của cơn lốc dã man đó. Dưới áp lực của đảng, ông viết bài chỉ trích và vu khống cụ Phan Khôi, một học giả nổi tiếng khác. Nhưng cụ Đổng Chi là người đàng hoàng và nhà văn hoá lớn, nên ông có chối lại cho con trai (tức là Giáo sư Nguyễn Huệ Chi) giải oan cho cụ.

Thành ra, tôi thấy một hội thảo về đóng góp và sự nghiệp của một học giả đáng kính như thế là rất cần thiết. Nhưng những gì mà bạn bè kể lại thì hình như buổi hội thảo xảy ra với vài … lắt léo. Một người bạn (tạm gọi là HO) viết trên fb như sau:

“Để hội thảo có thể tiến hành được thì Ban tổ chức (Hội Văn học Nghệ thuật TPHCM, Nhà xb Trẻ, Tập đoàn truyền thông Thanh Niên) không được đăng tham luận của nhà văn Nguyên Ngọc vào kỷ yếu hội thảo, không được mời nhà văn Nguyên Ngọc; ông con Nguyễn Huệ Chi không được phát biểu cám ơn và những người tham dự hội thảo mà phải giao cho cô út, muốn trao đổi với các ý kiến tham luận thì đứng dưới hội trường chứ không được lên bục diễn giả, và nhiều chuyện khác ...”

Thật khó tưởng tượng nổi đến thế kỉ 21 mà vẫn còn những hành xử kém văn hoá như thế! Người bạn trên nói là “chuyện bên lề”, nhưng tôi thì thấy đó là chuyện quan trọng. Quan trọng là vì những câu chuyện như thế nói lên một sự thật là có những thế lực cố tình gây cản trở cho tự do học thuật. Và, thế lực này không từ bỏ một tiểu tiết nào, cho dù là rất thấp, để đạt được mục tiêu của họ. Do đó, không ngạc nhiên khi OA tự hỏi: “Nền tự do như vậy mà lại đi 'giải phóng' một nơi tự do khác”.

Học giả làm ruộng

Trong hội thảo có nhiều chứng từ và di bút về học giả Nguyễn Đổng Chi. Một trong những chứng từ tôi thấy rất "thú vị" là tờ “Giấy thông hành” cấp cho ông vào ngày 24/5/1955 (tức thời Cải cách ruộng đất). Tờ giấy ghi nghề nghiệp của ông là “làm ruộng”, nhưng phía dưới ghi mục đích của chuyến đi là “gặp Ban nghiên cứu Văn Sử Địa”. Vui thật! Một anh nông dân mà có việc gì phải đi gặp một cơ quan nghiên cứu?! Mà còn nghiên cứu văn sử địa!



Đọc qua thì thấy một kiểu "dấu đầu lòi đuôi", nhưng cũng có thể giải thích một cách khác có lẽ thích hợp hơn. Thời đó (Cải Cách Ruộng Đất), những người như cụ Nguyễn Đổng Chi dĩ nhiên được xem là thành phần trí thức, tức là nằm trong nhóm bị “Đào tận gốc, trốc tận rễ”. Cho nên, ông quan chức công an Hà Tĩnh mới thương tình cho ông cái nghề rất hiền lành là “làm ruộng” cho an toàn trên đường đi từ Hà Tĩnh ra Hà Nội. Nếu để là "học giả" thì chắc gì ông may mắn ra khỏi được Hà Tĩnh. Dù gì đi nữa thì cái tờ giấy thông hành là một chứng từ cho một thời tăm tối.

Tây Sa, Nam Sa

Trong buổi hội thảo còn có một chứng từ rất quan trọng nói lên tầm nhìn của quan chức VNDCCH thời đó. Nhưng trước khi nói về chứng từ đó, tôi nhắc lại là chúng ta -- người Việt -- gọi tên Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này thì ai cũng biết. Nhưng bạn nghĩ sao nếu chính phủ Việt Nam gọi theo người Tàu là “Tây Sa” và “Nam Sa”? Ấy thế mà đó là cách gọi trên giấy trắng mực đen của Bộ Ngoại giao VNDCCH! Đó là một văn bản của Bộ Ngoại giao VNDCCH gửi cho học giả Nguyễn Đổng Chi vào ngày 22/1/1974. Nguyên văn như sau:

“BỘ NGOẠI GIAO VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Số LS/BG Độc lập Tự do Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 22 tháng 1 năm 1974

Kính gửi: Đ/c Giám đốc Thư viện nhà nước
Đ/c Giám đốc Thư viện Khoa học xã hội
Đ/c Cục trưởng Cục Lưu trữ
Đ/c Viện trưởng Viện Sử học

Thủ tướng Chính phủ cần tư liệu về vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Tây sa và Nam sa.

Đề nghị đồng chí bố trí cán bộ làm việc trong mấy ngày tết sưu tầm gấp các tư liệu, bản đồ về vấn đề này để trong vài ba ngày kịp trình lên đồng chí Thủ tướng. Chúng tôi xin cử cán bộ đến trực tiếp trình bày với các đồng chí để nói rõ thêm vấn đề này.

KT/BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO
Thứ trưởng
Hoàng Văn Tiến
”

Để đặt cái công văn này trong bối cảnh, chúng ta cần phải nhớ rằng Tàu cộng đánh chiếm Hoàng Sa từ VNCH vào ngày 19/1/1974. Trong trận hải chiến đó (do VNCH nổ súng trước) có 75 lính hải quân VNCH hi sinh.

Ba ngày sau, Bộ Ngoại giao VNDCCH mới gửi công văn này đến học giả Nguyễn Đổng Chi để … “sưu tầm tài liệu” trình Thủ tướng. Nói cách khác, VNDCCH có vẻ chẳng biết chủ quyền hai quần đảo đó là thuộc Việt Nam! Chuyện khó tin nhưng có thật. Chuyện càng khó tin khi Bộ Ngoại giao VNDCCH mà dùng danh xưng của Tàu cộng để chỉ 2 quần đảo của Việt Nam! Nhưng nhìn chung, cái công văn đó cho thấy khi Tàu cộng đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH, phía VNDCCH … không biết nói gì. Nói cách khác, họ mù mờ về sự thật lịch sử.

Trước đây, tôi vẫn bán tín bán nghi khi Tàu cộng chúng rêu rao rằng VNDCCH từng tuyên bố rằng Hoàng Sa thuộc về Tàu. Chúng tung tài liệu nói rằng "Ngày 15/6/1956, trong khi tiếp đại diện lâm thời của Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, Lý Chí Dân, Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói với ông rằng: ‘Theo dữ liệu của Việt Nam, quần đảo Tây sa và quần đảo Nam Sa về mặt lịch sử là một phần lãnh thổ của Trung Quốc’" (2). Tuyên bố này có thật, vì cuốn sách "Cuộc tranh chấp Việt - Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" của ông Lưu Văn Lợi do Nhà xuất bản Công an Nhân dân Hà Nội phát hành năm 1995, xác nhận.

Trong một bài viết mới đây, Gs Vũ Cao Đàm (ĐHQG Hà Nội) có nói đến quan điểm của ông Lê Duẩn lúc Tàu cộng đám chiếm Hoàng Sa từ VNCH như sau:

"Còn khi Tàu Cộng chiếm Hoàng Sa thì mấy ông tuyên huấn của Bác Duẩn lại báo tin mừng cho chúng tôi biết, là 'bạn' đã giúp ta lấy lại Hoàng Sa 'từ tay quân ngụy'. […] Hỏi quân ngụy là ai mà dám chiếm đóng Hoàng Sa, thì mới tá hỏa ra là bọn họ cũng là người Việt Nam, đang cầm súng chiến đấu bảo vệ đảo của nước ta" (3).

Câu chuyện trên đây do bác Vũ Cao Đàm kể lại, cùng với chứng từ "Tây Sa, Nam Sa" của Bộ Ngoại giao VNDCCH, và phát biểu của ông Ung Văn Khiêm tiết lộ một cách khá nhất quán rằng thời đó mấy quan chức và lãnh đạo cao cấp ngoài Bắc rất mơ hồ về chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa. Do đó, ngày nay khi những người nối nghiệp họ và chúng ta phải gặp khó khăn lớn khi đương đầu với những chứng từ do chính họ sản sinh.

Khó khăn đó là thật. Viết đến đây tôi nhớ lại một sự việc hai năm trước. Lúc đó, một bài báo khoa học của Tàu cộng đăng bản đồ với đường 9 đoạn, và chúng tôi viết thư phản đối, nên tập san Nature phỏng vấn tôi về việc này. Một phần bài phỏng vấn được công bố và gây ảnh hưởng rất tốt. Nhưng có ít nhât 5 tác giả Tàu (tôi đoán là từ Tàu, vì khó nói về địa chỉ email) viết email đến tôi chửi bới khá thô tục, nhưng lá thư nào họ cũng nói rằng chính Chính phủ VNDCCH công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu. Dĩ nhiên, loại phản ứng vô văn hoá đó tôi chẳng trả lời, mà chỉ gửi cho Nature để họ đọc … giải sầu. Nhưng quả thật, những chứng từ bất lợi như thế sẽ còn ám ảnh chúng ta. Bởi thế, tôi mới nói nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng lắm người ơi.


====




Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

The Paracel-Spratly dispute: No room for misinterpretation

Đọc bài trên tờ China Daily của cái tay nhà nghiên cứu Ling Dequan làm tôi thấy bực mình vì tính khiếm nhã và ngụy biện. Vì thế tôi đã viết vài dòng để trước là giải toả lồng ngực :-) và sau là giải thích cho tác giả thấy sự vô lí trong bài. Tôi đã bài viết dưới đây cho China Daily, nhưng tôi không hi vọng báo của Tàu cộng sẽ đăng. Vì vậy gửi lên đây để chia sẻ cùng các bạn một cách phản bác nó. 



I feel, reluctantly, that I should take issue with the ravings of Mr. Ling Dequan in his article, “The truth about the sea dispute” (1), in which, he argues that the communication of the late Prime Minister Pham Van Dong to Zhou Enlai was a statement of support for China’s claims to islands and reefs in the Paracel and Spratly archipelagos. The argument is flawed, because the author misapprehends the legal value of the communication and the real sovereignty of the archipelagos.

Ling Dequan correctly points out that the communication that the late Prime Minister Pham Van Dong sent to Zhou Enlai was a “note”. The note is a private communication between two individuals, and can not in any way be considered a formal government statement. Thus, Dequan’s reading of the note as a statement of support for China’s sovereignty claims on  Paracel and Spratly archipelagos is an inappropriate overinterpretation.

Indeed, China’s claims are not recognized by major countries in the world. For instance, in 1996 China issued a "Declaration on the Baselines of the Territorial Sea" which established straight baselines for the Paracel Islands. However, these claims were not (and still are not) recognized by the United States.

It is important to stress that in 1958, there were two internationally-recognized governments in Vietnam: The Democratic Republic of Vietnam in the north, and the Republic of Vietnam in the south. The Paracel and Spratly archipelagos were under the jurisdiction of the Republic of Vietnam. Therefore, the note by Mr. Pham Van Dong had neither legal value nor diplomatic meaning -- whatsoever.

More importantly, Ling Dequan fails to acknowledge the fact that prior to 1954 Vietnam was the formal administrator of the Paracel and Spratly islands, and that China used force to invade and occupy Paracel in 1974 and Spratly in 1988. The Chinese invasion is likened to an act of piracy. Surely, at the time of invasion the Chinese was not considering the note of Pham Van Dong.

I came away feeling sorry for Ling Dequan who is described as a “researcher” of the Research Center of World Issues. It is clear that Dequan has failed to convince readers that he has the quality of a serious researcher.  Of course, it is possible that as an employee of a center associated with the Xinhua News Agency, Dequan might have to sacrifice his scientific integrity to pen down something that he does not necessarily believe in, and that is a shame.
---

Phản bác luận điểm của Tàu cộng như thế nào?

Đọc bài gọi là “phản biện” của ông Trần Công Trực (1) tôi thấy có phần hời hợt và thiếu tính thuyết phục. Những điểm trình bày trong bài viết có lẽ chỉ nói cho “phe ta” đọc cho vui mắt thôi, và tạo ấn tượng học thuật qua danh xưng. Nhưng đứng trên phương diện học thuật thì bài phản biện này chưa đạt chuẩn để lên võ đài tranh luận với các học giả Tàu. Đây chính là vấn đề của VN: chỉ thích nói cho nhau nghe, mà không phản bác đối phương một cách trực tiếp. Hệ quả là chính ta ru ngủ ta (hay có người nói là “tự sướng”).


Sự hời hợt được phản ảnh qua phần phản bác thông tin trong sách giáo khoa lớp 9. Chẳng hạn như câu “Các tài liệu khác như Sách giáo khoa địa lý lớp 9, Tập bản đồ thế giới…thực chất đây là những tài liệu tham khảo phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu, học tập…”.  (Ôi! Sao tôi ghét cái dấu ba chấm này quá [2]). Tôi sợ giải thích này không thuyết phục. Ở một nước mà thông tin bị kiểm soát nghiêm ngặt và tất cả tin tức đều qua kiểm duyệt của bộ máy đảng và Nhà nước thì lí lẽ gọi là “tham khảo” không có giá trị pháp lí không thuyết phục được ai. Nên nhớ rằng tài liệu tham khảo là một chứng từ, và theo tôi thấy, chứng từ vẫn có giá trị nào đó ở pháp đình. Vấn đề là giá trị của nó cao thấp cỡ nào. Bọn Tàu cộng đọc xong câu này chắc chúng sẽ cười, vì chúng thầm nghĩ “chiêu này chúng tao dạy cho tụi bây mà”.
Vậy chúng ta phản bác luận điệu sách giáo khoa này như thế nào? Tôi nghĩ đến những cách thức và luận điểm sau đây:

Thứ nhất là tính phi khoa học. Tài liệu tham khảo có thể dùng để biện minh cho một phát biểu hay quan điểm. Việc Tàu cộng dùng “tài liệu tham khảo” (dùng chữ của ông TCTrực) là hợp lí. Nhưng cách sử dụng đó cũng không hợp lí và phi khoa học, bởi vì trong học thuật, có tài liệu tham khảo yểm trợ cho một quan điểm, nhưng cũng có tài liệu tham khảo khác không yểm trợ quan điểm đó. Tại sao họ không trích dẫn sách giáo khoa địa lí ở miền Nam? Tương tự, nếu khách quan thì Tàu cộng phải trình bày tài liệu khác cho thấy hai quần đảo đó không thuộc về họ (nhưng điều này thì chúng ta không thể kì vọng họ). Vì không kì vọng vào tính khoa học của Tàu cộng, nên phía VN phải trình bày tài liệu tham khảo khác đáng tin cậy hơn và khách quan hơn để phản bác quan điểm của họ.

Thứ hai là phản bác về độ tin cậy và chính xác của thông tin. Tôi nghĩ không nên dựa vào lí giải rằng vì là “tham khảo” nên không có giá trị pháp lí, mà phải biện luận cái nguồn gốc của thông tin đó. Nói cách khác, phải tìm cho rõ thông tin trong sách giáo khoa lớp 9 (nói rằng Tây Sa và Nam Sa là của Tàu cộng) xuất phát từ đâu. Sau đó sẽ thẩm định độ tin cậy và tính chính xác của thông tin đó. Tôi chủ quan nghĩ rằng thông tin đó đến từ Tàu cộng (hoặc do chúng áp đặt, hoặc phía VN dịch sách của Tàu cộng), và nếu điều đó đúng thì thông tin chẳng có ý nghĩa gì trong tài liệu của họ.

Thứ ba là thông tin trong sách giáo khoa không phải là bất biến. Trong nhiều lĩnh vực, kể cả địa lí và sử, biên giới và chủ quyền có thể thay đổi theo thời gian. Sự thay đổi có thể là do tranh chấp, chiến tranh, hay do kiến thức mới. Do đó, sách giáo khoa địa lí của Bắc VN đã in từ hơn 40 năm trước, và trong thời gian đó đã có nhiều thay đổi. Lấy thông tin của hơn 4 thập kỉ trước để biện minh cho tranh chấp hiện nay là có phần không hợp lí. Không ai dựa vào thông tin sử của 400 năm trước để đòi Los Angeles trả về cho Mexico, hay trả Sài Gòn cho Vương quốc Khmer!  Vả lại, VN bây giờ là thống nhất, còn cuốn sách giáo khoa đó chỉ được dùng giảng dạy cho một phần VN, và cũng chỉ trong một thời gian ngắn, không thể xem là một tài liệu tham khảo có giá trị bất biến. 

Thứ tư là dùng đến phân tích thống kê. Tàu cộng dùng thông tin trong sách giáo khoa của VN và cái thư (hay công hàm?) của Phạm Văn Đồng, và có thể vài nguồn khác để biện minh về chủ quyền. Nhưng lượng tài liệu của họ không nhiều, và chất cũng kém. Do đó, ở đây, chúng ta phải đấu về lượng và chất. Không cần nói ra, chúng ta đều biết VN đang lưu giữ một lượng thông tin khổng lồ về chủ quyền hai quẩn đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chắc chắn là nhiều hơn lượng thông tin của Tàu. Vậy thì phía VN còn chần chừ gì mà không làm một thống kê có bao nhiêu tài liệu “for” và “against” (phải có cả hai) để làm một chứng minh mang tính định lượng về chủ quyền. Để thuyết phục về chất, cần phân loại thông tin (lịch sử, khoa học, văn học, báo chí) và sắp xếp theo thời gian.  Các nhà báo VN hết năm này sang tháng nọ cứ viết bài “có thêm bằng chứng” [chủ quyền] mà không có ai đứng ra hệ thống hoá thông tin cả. Đã đến lúc một nhóm nhà bào hay nhà khoa học xã hội đứng ra thu thập dữ liệu và biến chúng thành thông tin và tri thức. Nếu cần kĩ năng phân tích thống kê, sẽ có người ở VN hoặc nước ngoài hỗ trợ. Tôi nghĩ đó là một cách thức thực tế để tạo thêm chứng từ trong cuộc đấu tranh với Tàu cộng. 

Phải nói là Tàu cộng rất hèn và thấp khi sử dụng đến cái công hàm của Phạm Văn Đồng và sách giáo khoa trong tài liệu họ nộp cho Liên Hiệp Quốc để “chứng minh” rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu. Đây là những tài liệu được soạn ra trong lúc hai bên (Bắc VN và Tàu cộng) còn thân thiết với nhau như anh với em (“môi hở răng lạnh”), vậy mà bây giờ họ dùng đó để ra đòn “hạ thủ”. Việc sử dụng các tài liệu này chẳng khác gì cặp tình nhân lúc còn mặn nồng thì vui vẻ chụp hình bên nhau, đến một ngày nào đó “canh không ngọt” thì một bên công bố những tấm hình tế nhị cho cả thế giới biết. Đó là một trò hèn hạ và bỉ ổi, nhưng nó có tác dụng và gây ảnh hưởng với những ai không chịu khó suy nghĩ.

Nhưng VN không nên hạ mình thấp và hèn như Tàu cộng. Trong tranh luận với Tàu, chúng ta cần phải tận dụng tất cả thông tin và vận dụng tất cả phương tiện Tôi nghĩ nếu VN phản bác (và nên phản bác) luận điểm của Tàu cộng, thì những tận dụng thông tin và vận dụng thống kê có thể giúp một phần. Dĩ nhiên, tận dụng và vận dụng nhưng phải tỏ ra khách quan (ví dụ như nhìn vấn đề 2 chiều) chứ không hèn và tự hạ thấp như Tàu.

-----
[2] Tôi phải mở ngoặc đế nói về cách viết. Hình như nhiều người Việt có “truyền thống” viết văn với ba dấu chấm, nên nó rất rất phổ biến. Tôi rất ghét ai viết như thế, vì tôi nghĩ nó phản ảnh sự lười biếng suy nghĩ của tác giả. Ba dấu chấm (…) có thể hiểu nhiều cách: có thể là một sự ngập ngừng, có thể là chẳng còn ý nào khác, hoặc có thể là người viết nghĩ chưa đến nơi đến chốn. Hiểu thế nào thì vẫn là một sự lười biếng suy nghĩ. Kiểu viết đó rất phản cảm và đại kị trong khoa học.
[3] Đây là một phần tài liệu (phụ lục) mà Tàu nộp lên Liên Hiệp Quốc vào hôm thứ Hai 9/6/2014, trong đó họ trích dẫn sách giáo khoa địa lí lớp 9 ở miền Bắc Việt Nam.


annex5-5-2.jpg

annex5-5-3.jpg

annex5-5-4.jpg
[4] Trích từ BVN: Xung quanh việc tranh chấp chủ quyền của Quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và China mà hai bên đã lên án, phản bác lẫn nhau trên các phương tiện truyền thông vừa rồi; dù muốn hay không nghĩ đến, nhưng người Việt hôm nay, phần nào phải công nhận rằng: Chính nghĩa đang dần thuộc về VNCH. Nếu như cho rằng, với mọi người trên Đất Nước Việt Nam thì “Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng, tối thượng”, thì chính nghĩa lại đang thuộc về VNCH.

clip_image002

Sắc lệnh (năm 1961 – sau 3 năm so với “công thư Phạm Văn Đồng”) của Tổng thống VNCH, đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập xã Định Hải gồm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trực thuộc quận Hòa Vang, Quảng Nam. Nguồn ảnh: facebook.com